Trang chủ

Giới thiệu

Ý kiến khách hàng

Sản phẩm

Liên hệ

Thông tin hoạt động
Giấy phép Pháp lý
Dinh dưỡng
Gardening guides
Hỏi và đáp
Tìm kiếm
Văn bản
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Giấy phép được phép lưu hành toàn quốc của Bộ Nông nghiệp
Công văn của Cục Trồng trọt, Bộ NN và PTNT ngày gửi các Sở NN & PTNT..
Mô hình tham quan
Khu vực sản xuất lúa sử dụng Ước mơ nhà nông dạng rắn tại xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam ĐỊnh
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Mô hình Cà chua
Mô hình Hòa lạc
Số lượt truy cập : 557937
Số người trực tuyến : 23
Quản lý dinh dưỡng

Quản lý dinh dưỡng cây trồng và phân bón Ước mơ nhà nông

(AGRODREAM)

Lời mở đầu

Công ty ETC mở chuyên mục mới trên trang web về Quản lý dinh dưỡng cây trồng” nhằm cụ thể các cách thức để người nông dân có thể sử dụng hiệu quả các chất dinh dưỡng khác nhau (trong đó có cả các phân bón vô cơ truyền thống) để giảm chi phí cho phân bón, cho thuốc bảo vệ thực vật, giảm công chăm sóc và bảo vệ môi trường sống. Mục tiêu của công ty là gắn yêu cầu của dinh dưỡng với từng giai đoạn phát triển sinh lý của cây trồng, khi đó lượng phân bón sẽ giảm đi rất nhiều và vai trò của chất dinh dưỡng hữu cơ, của các vi sinh vật trong đất, của quá trình quang hợp và của 1 hệ thống tự nhiên đa dạng sẽ tăng lên nhiều. Tuy nhiên đó là mục tiêu lâu dài, trước mắt, các bài viết trong chuyên muc này sẽ giúp cho việc sử dụng hiệu quả chất dinh dưỡng cho từng giai đoạn phát triển của các cây trồng khác nhau, trong đó có khuyến cáo sử dụng phân bón Ưc mơ Nhà nông (AGRODREAM) là một một giải pháp quan trọng để điều hoà các nhu cầu dinh dưỡng của cây và tăng cường khả năng tận dụng những nguồn chất dinh dưỡng vô tận trong tự nhiên do các quá trình quang hợp và vi sinh vật mang lại.

Dinh dưỡng ảnh hưởng tới sinh trưởng,

phát triển cây trồng như thế nào ?

 

TS. Mai Thị Phương Anh

Công ty cổ phần Kỹ thuật Môi trường

Cũng giống như các cơ thế sống khác, cây cần dinh dưỡng để tăng trưởng và phát triển. Nếu không có đủ 16 nguyên tố quan trọng, cây có những biểu hiện thiếu hụt như bị còi cọc, màu sắc lá kém, thừa dinh dưỡng cây bị ngộ độc .... Các chất dinh dưỡng cần thiết bao gồm :

I. Chất dinh dưỡng không phải chất khoáng : hydro, cac bon và oxy được cây tiếp nhận từ không khí và nước. Trong quang hợp cây dùng năng lượng mặt trời để biến khí các bo nic (CO2) và nước (H2O) thành tinh bột và đường. Đây là các loại thực phẩm từ thực vật

II. Chất dinh dưỡng khoáng - có 3 nhóm : đa, trung và vi lượng tồn tại trong đất (chất khoáng và chất hữu cơ). Để cây sử dụng các chất dinh dưỡng hiệu quả thì cây cần được sống trong môi trường đầy đủ ánh sáng, nước và độ ấm. Đất không đủ dinh dưỡng, cần được cung cấp từ bên ngoài bằng phân bón (hữu cơ và vô cơ).

A. Các nguyên tố đa lượng (quan trọng nhất): ni tơ, phốt pho và kali.

1. Ni tơ (N) : tác động trong tất cả quá trình sống của cây; là  thành phần cấu tạo chủ yếu của axit amin, protein, cùng với các nguyên tố khác tạo thành axit nucleic - cơ sở vật chất di truyền của sự sống nói chung và thực vật nói riêng, các photpholipit, các hợp chất cao năng (ATP, ADP…), các coenzym (NAD, FAD…), một số vitamin, diệp lục (trong quang hợp), một số hormon, kháng sinh và nhiều hợp chất hữu cơ khác giữ vai trò điều tiết các hoạt động sống của tế bào và cơ thể. Thiếu hụt Ni tơ lá cây vàng hoặc xanh nhạt, cây còi cọc, giảm số lượng hoa và chín sớm. Cây phản ứng rất mạnh với phân chứa Ni tơ, mặc dù ni tơ bị rửa trôi rất nhanh trong đất.

2. Phốt pho (P) : là thành phần của nhân tế bào; cần trong quá trình tăng trưởng rễ cây; quá trình nảy mầm hạt; ảnh hưởng đến sự tạo thành và chín của quả. Là thành phần quan trọng của axit nucleic; là thành phần của các nucleotit; đặc biệt là các phân tử cao năng ATP, ADP…, là thành phần của các phân tử photphorit - cơ sở phân tử của cấu trúc các loại màng trong tế bào, là thành phần của các coenzym; là thành phần của các loại đường hoạt hóa…có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp, hô hấp ở thực vật. Phôt pho có vai trò điều tiết: muối vô cơ của axit photphoric trong tế bào tham gia điều tiết độ pH của xytosol, điều tiết độ nhớt keo trao đổi chất, kích thích quá trình tổng hợp protein, tổng hợp gluxit… làm tăng phẩm chất hạt và phôi, nâng cao khả năng chống chịu của cây. Kích thích hoạt động của vi khuẩn nốt sần cây họ đậu trong quá trình cố định nitơ. Thiếu phốt pho giảm phân chia tế bào,  thân lá chuyển sang màu vàng, cây còi cọc, quả chín chậm lại, giảm lượng hạt, giảm sự phát triển quả. Cây hút phốt pho từ đất khi thời tiết ấm, do đó thường gặp hiện tượng thiếu phốt pho khi thời tiết rét. Cây rất mẫn cảm với phốt pho ở giai đoạn sinh trưởng, phát triển đầu tiên, đó là thời kì nảy mầm va cây non.

3. Kali (K) : nhiều chức năng trong chu trình sinh lý như quang hợp, hô hấp (tổng  hợp ATP, thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp diệp lục, nâng cao cường độ quang hợp, tăng cường độ phân giải các chất hữu cơ…); tổng hợp protein, duy trì nước (lượng kali trong mô liên quan đến cường độ quang hợp, tốc độ và hiệu quả sử dụng nước của cây); phân chia tế bào; tăng cường tạo đường nhờ xúc tiến đồng hóa CO2 và vận chuyển đường đến các cơ quan tiêu thụ hoặc dự trữ; các quá trình có tham gia của men (kali không phải là thành phần cấu trúc bắt buộc của men nhưng có tác dụng hoạt hóa các men thực hiện trong quá trình trao đổi gluxit, quá trình tổng hợp axit béo.... Có khoảng hơn 60 loại men cần sự tham gia hoạt hóa của kali. K đóng vai trò như một bơm thẩm thấu; kích thích sự hấp thụ nước từ ngoài vào tế bào rễ; giúp cây tăng tính chống chịu với sâu bệnh hại, khô hạn, nóng và rét bằng việc đóng mở khí khổng, vận chuyển đường. Thiếu hụt kali lá biến màu, giảm năng suất quang hợp, sinh trưởng chậm, cây bé nhỏ, yếu ớt, thân mảnh, rễ kém phát triển, hậu quả là quả và hạt bé, năng suất và chất lượng giảm.

B. Các nguyên tố trung lượng

1. Can xi (Ca) : chiếm phần lớn trong cấu tạo vách tế bào thực vật,  có vai trò đáng kể trong hình thành các chất hữu cơ và cấu trúc tế bào; góp phần xây dựng nên bản trung gian giữa các tế bào do đó ảnh hưởng lớn đến sự phân bào và kéo dài tế bào, ảnh hưởng đến tính thấm của màng, đến sự vận động của tế bào chất, đến hoạt động của men (là tác nhân hoạt hóa của nhiều men) và nhiều quá trình khác. Ngoài ra can xi còn hạn chế sự xâm nhập của các ion khác vào rễ cây, góp phần loài bỏ độc tính do nồng độ dư thừa của các ion NH4+, Al3+, Mn2+, Fe3+, tăng tính chịu mặn của cây, giảm độ chua của đất. Thiếu canxi rễ sinh trưởng chậm, vách tế bào bị hóa nhầy và tế bào bị hủy hoại, rễ, lá, và các phần khác của cây bị thối và chết, gãy những phần chóp hoặc chồi non.

2. Magiê (mg) : thành phần cấu tạo diệp lục tố; thành phần cấu trúc nên riboxom và poliriboxom, là cầu nối giữa nguyên liệu và men, tham gia hình thành cấu trúc không gian của axit nucleic, có tác dụng kích thích khoảng 80 loại men; tham gia điều tiết nhiều quá trình trao đổi chất trong tế bào, kích thích tăng hiệu lực sử dụng N, P, K của cây; kích thích ra hoa, kết quả sớm, nâng cao chất lượng hạt. Thiếu Mg sẽ làm giảm lượng P trong cây và ức chế quá trình tổng hợp các hợp chất photpho hữu cơ, ức chế sự tổng hợp polisacarit-tinh bột và ức chế sự tổng hợp potein, ảnh hưởng đến lsinh tổng hợp diệp lục.

3. Lưu huỳnh (S) : là thành phần cấu tạo trong protein và dầu thực vật, là thành phần của 3 axit amin là xistein, xistin và metionin, có vai trò trong quá trình trao đổi chất và năng lượng, trong thành phần của coenzym - cơ sở phân tử của quá trình trao đổi chất trong tế bào; có tác dụng ổn định cấu trúc phân tử protein, giữ ổn định thế năng oxy hóa khử của tế bào. Thiếu lưu huỳnh ức chế sự tổng hợp các axit amin và protein chứa lưu huỳnh, giảm cường độ quang hợp, giảm tốc độ sinh trưởng. Thiếu lưu huỳnh nghiêm trọng sinh tổng hợp diệp lục bị phá hoại và cơ thể bị phân giải.

C. Các nguyên tố vi lượng

1. Đồng (Cu) : cần thiết cho sự hình thành diệp lục và làm xúc tác cho một số phản ứng khác trong cây; tham gia vận chuyển điện tử trong quang hợp; kích thích quá trình tổng hợp chlorophyll, kích thích sự vận chuyển sản phẩm quang hợp tới mô dự trữ, tổng hợp tinh bột, dầu, vi ta min; tham gia thành phần các protein chứa đồng và các enzym xúc tác các phẩn ứng oxi hóa khử, quá trình khử nitrat ở tế bào; tăng tính chống chịu lốp đổ nhờ điều tiết hàm lượng các chất ức chế có bản chất phenol của cây, làm tăng tính chống nấm bệnh, chịu rét, chịu nóng cho cây. Thiếu đồng, cây sẽ phát triển chậm, mất nước, dễ bị nấm bệnh.

2. Bo (B) : cần thiết cho nẩy mầm của hạt phấn, tăng trưởng của ống phấn, cần thiết cho sự hình thành của thành tế bào và hạt giống, hình thành nên các phức chất đường, rượu, các chất phenol, ảnh hưởng đến cơ chất của các phản ứng enzym, xúc tiến hoặc ức chế quá trình tổng hợp gluxit, protein, axit nucleic…có liên quan đến trao đổi tinh bột, pectin, amit, axit hữu cơ, caroten, vitamin A, C…; đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein. Thiếu Bo cây sinh trưởng còi cọc, làm đình trệ đỉnh sinh trưởng và các lá non.

3. Sắt (Fe) : là chất xúc tác để hình thành nên diệp lục và hoạt động như là một chất mang oxy; giúp hình thành một số hệ thống men hô hấp. Tham gia hỗ trợ, xây dựng các enzym trong dây chuyền tổng hợp diệp lục, tham gia vào quá trình quang phân ly nước và photphoryl hoá; thành phần bắt buộc của hệ enzym oxy-hoá khử; tham gia vận chuyển điện tử từ nguyên liệu hô hấp tới oxy. Thiếu sắt gây ra hiện tượng mầu xanh lá cây nhợt nhạt (bạc lá). Tuy nhiên quá nhiều sẽ gây độc cho cây, có thể bón vôi, đạm và một số nguyên tố khác để hạn chế độc hại này.

4. Mangan (Mn) : thành phần của các hệ thống men (enzyme) trong cây; hoạt hóa một số phản ứng trao đổi chất quan trọng trong cây, hỗ trợ tổng hợp diệp lục; Tăng cường sự chín và sự nẩy mầm của hạt bằng việc tăng sử dụng của phốtpho và canxi. Thiếu mangan ở những chân đất giàu hữu cơ, trung tính hoặc hơi kiềm, cũng có thể gây ra bởi sự mất cân bằng với các dinh dưỡng khác như canxi, magiê và sắt khi điều kiện thời tiết lạnh, úng nước.

5. Molipden (Mo) : cần cho tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat (thành ammonium); tham gia quá trình cố định đạm tự do; cần thiết cho việc chuyển hóa phốtpho từ dạng vô cơ sang hữu cơ trong cây;. kích thích quá trình tổng hợp các axit amin, protein, chlorophyll, antoxian, phenol, tanin…; cùng với các nguyên tố khác thúc đẩy sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá tới các cơ quan dự trữ làm tăng hiệu quả quang hợp; làm tăng khả năng giữ nước của mô, giúp cây chịu hạn tốt. Thiếu Molipden thường xảy ra ở đất chua,  đất nhẹ.

6. Kẽm (Zn) : là một trong các nguyên tố vi lượng đầu tiên cần thiết cho cây trồng (nguyên tố hạn chế năng suất); hỗ trợ tổng hợp các chất sinh trưởng và hệ thống men (đường phân, hô hấp, xúc tác phản ứng loại nước ); tăng cường số phản ứng trao đổi chất trong cây; xúc tác quá trình tổng hợp triptophan, protein, axit indolilaxetic, cần để sản xuất diệp lục và các hydratcarbon. hiếu kẽm làm giảm qua trình tổng hợp axit amin quan trọng là triptophan, gây ra rối loạn quá trình trao đổi phốtpho và nhiều quá trình sinh lý nhờ quang hợp, hô hấp…

7. Clo: là nguyên tố vi lượng sống còn cho cây trồng; tham gia vào các phản ứng năng lượng trong cây; tham gia vào quá trình vận chuyển một số cation như canxi, magie, kali; điều hòa hoạt động của những tế bào bảo vệ khí khổng (kiểm soát sự bốc hơi nước).

 

 

Đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây như thế nào ?

 

Đất tốt rất cần thiết để cho cây sinh trưởng và phát triển. Cùng với nước, ánh sáng và không khí, đất giúp cây lấy dinh dưỡng và phát triển khỏe hệ rễ.

1. pH đất  : đất có pH thấp được coi là đất chua, còn đất có pH >7 được gọi là đất kiềm. pH đất ảnh hưởng đến loại và số lượng chất dinh dưỡng có thể cung cấp cho cây.  Đất chua chứa nhiều sắt, bo, đồng và kẽm hơn đất kiềm. Nếu không có pH thích hợp rất nhiều chất dinh dưỡng cây không thể hút được. Nếu pH thấp các chất đa lượng trở nên thiếu. pH thấp còn cải thiện hệ vi khuẩn phân giải ni tơ và lưu huỳnh.

2. Cấu trúc đất : Cấu trúc đất là nhân tố quan trọng tác động đến sự sinh trưởng của cây. Cấu trúc đất tốt giúp vận chuyển nước và chất khoáng.

3. Vi sinh vật đất (vi sinh vật đất) : Vai trò chính của vi sinh vật trong đất là phân hủy chất hữu cơ  phức thành chất hữu cơ đơn giản (một quá trình quan trọng trong hệ sinh thái khi các chất dinh dưỡng nằm ở dạng hữu cơ) đảm bảo việc tái chế vật liệu bên trong đất; vai trò quan trọng trong chu trình nitơ phân giải chất hữu cơ giải phóng ni tơ và giúp cây có thể cố định ni tơ từ không khí để đảm bảo các chất dinh dưỡng có thể duy trì liên tục toàn bộ hệ thống; tăng khả năng giữ nước của đất thông qua sự hình thành mùn, tạo ra môi trường hấp dẫn để cây có thể phát triển; giiúp ngăn ngừa ô nhiễm bằng cách phá vỡ các chất gây ô nhiễm; tạo các túi khí, thông thoáng, giúp rễ cây phát triển.

Trong một thìa đất canh tác có thể chứa hơn 3 tỷ vi khuẩn với vài trăm nghìn loài vi khuẩn, mỗi loại có một vai trò phân giải khác nhau. Vi khuẩn sống trong môi trường chủ yếu là chất khoáng,  nước, không khí và vật liệu hữu cơ. Đất càng có nhiều chất hữu cơ thì số lượng và chủng loại vi khuẩn càng lớn, do đó cây càng có nhiều cơ hội tiếp nhận chất dinh dưỡng từ đất. Tuy nhiên, trong đất cũng tồn tại một số vi khuẩn có hại, nhưng trong đất giàu hữu cơ vi khuẩn có lợi sinh sôi này nở nhanh sẽ lấn át vi khuẩn có hại. Những điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật phát triển là đất giàu chất hữu cơ, đủ ẩm, thông thoáng và nhiệt độ thích hợp. Ngoài vi khuẩn thì vai trò của giun đất rất quan trọng trong việc nâng cao và duy trì độ phì đất canh tác. Giun đất trong quá trình sinh sống lấy chất hữu cơ từ đất, biến nó thành chất mùn thông qua quá trình tiêu hóa, để lại một lượng phân trộn  trong đất, góp phần tăng độ phì đất. Như vậy đất càng có nhiều chất hữu cơ càng có nhiều giun hoạt động

            Như vậy, việc quản lý đất rất quan trọng để tăng cường lượng chất dinh dưỡng trong đất  canh tác cung cấp thường xuyên và đủ cho cây trồng, cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và duy trì độ bền vững đất. Quản lý đất tốt làm tăng số lượng và sự đang dạng vi khuẩn. Nếu để đất dí dẽ, thiếu oxy (trong trườn hợp bón quá nhiều phân vô cơ kéo dài, không chú trọng đến bổ sung chất hữu cơ, tưới quá nhiều, không đúng cách nén khoảng không giữa các hạt đất sẽ làm giảm đáng kể lượng vi khuẩn trong đất.

 

Giải pháp nào cho việc quản lý đất canh tác và dinh dưỡng ? 

 

-          Bổ sung thêm chất hữu cơ thông qua phân bón hữu cơ là giải pháp tối ưu.

-          Tận dụng tối đa quang hợp để có đường và tinh bột.

-          Tận dụng tối đa khả năng của vi sinh vật trong đất để có chất kích thích sinh trưởng, chất tự bảo vệ và tổng hợp ni tơ tự nhiện thay cho phân đạm.

 

Mối quan hệ giữa việc bón phân

và chất lượng dinh dưỡng như thế nào ?

 

Đất tốt là điều kiện đầu tiên để cây sinh trưởng. Đất luôn luôn bị cây lấy mất dinh dưỡng trong chu trình sống, do đó việc bổ sung dinh dưỡng thông qua bón phân rất quan trọng. Tuy nhiên, việc lựa chọn loại phân và thời kỳ bón có tính quyết định đến tăng trưởng và phát triển cây trồng. Như đã biết cây trồng cần 16 nguyên tố dinh dưỡng nhưng tuỳ từng loại cây trồng, tuỳ từng giai đoạn sinh trưởng mà yêu cầu các chất dinh dưỡng này khác nhau.

Phân bón hữu cơ là loại phân bón đáp ứng được yêu cầu trên. Một trong những giải pháp thuận tiện, rẻ và dễ sử dụng nhất là dùng phân bónƯớc mơ nhà nông” để bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng và đảm bảo độ bền vững đất, không tác động xấu đến môi trường.

 

Tại sao phân bón Ước mơ Nhà nông 

được khuyến cáo sử dụng để bổ sung dinh dưỡng

cho tất cả các loại cây trồng ?

 

- Thứ nhất : Ưc mơ Nhà nông (AGRODREAM) có nguồn gốc hữu cơ chứa tất cả các loại dinh dưỡng mà cây cần.

- Thứ hai : AGRODREAM ở dạng lỏng có thể phun lên toàn bộ cây (thân, lá, hoa, quả), tưới gốc hoặc chuyển sang dạng rắn để bón lót và thúc sớm (xem Hướng dẫn sử dụng)

- Thứ ba : Phân bón AGRODREAM giúp phát triển hệ vi sinh vật đất, tạo đất thông thoáng, tăng khả năng giữ ẩm, tăng tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh.  

 

 

 

Vai trò dinh dưỡng đối với sinh trưởng
và phát triển của cây cà chua

 

                                         TS. Mai Thị Phương Anh

Công ty cổ phần Kỹ thuật Môi trường

 

Lời mở đầu

 

Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill.) là cây rau ăn quả có sản lượng toàn thế giới đạt trên 120 triệu tấn (FAO, 2007). Cà chua là một loại rau ăn quả vô cùng quý giá bởi lẽ trong quả cà chua chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người, các thành phần dinh dưỡng trong cà chua còn giúp nâng cao sức khỏe bởi vài trò y học của nó. Trong quả cà chua chứa tới 20 loại vitamin (E, B-6, Thiamin, niacine, axit folic, riboflavin, axit pantothenic) và chất khoáng  (kali, mangan, magiê, đồng, phốt pho, canxi, sắt và kẽm). Quả cà chua dùng để ăn tươi hoặc chế biến đều cần có hương vị, màu sắc và kết cấu đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra nó còn cần có độ cứng để đảm bảo chất lượng sau thu hoạch và vận chuyển xa. Thành phần đất, cấu trúc đất, pH và chất dinh dưỡng đều đóng vai trò quan trọng là chìa khóa để cây cà chua có sức sống tốt, cho năng suất cao, chất lượng quả tốt, màu sắc quả đẹp và chịu vận chuyển, có thể đáp ứng lượng cabuahydrat và protein hàng ngày. Trong 100 g quả cà chua có 4g cabuahydrat (1 g tồn tại ở dạng chất xơ có vai trò tăng sức khỏe ruột kết và chức năng tiêu hóa, 3 g còn lại là đường chủ yếu là gluco và fructo). Đường cung cấp năng lượng cho quá trình trao đổi chất của tế bào và có khoảng 1g protein. Các axit amin đóng vai trò quan trọng trong chức năng tiêu hóa và điều chỉnh tế bào. Chín axit amin trong đó có lysine con người không thể tự tổng hợp (rất khó có thể tìm ở các loại quả khác). Lysine giúp giảm collesterol, đóng vai trò chủ chốt trong tăng độ bền của xương, dây chằng và khớp. Cà chua chứa nhiều lycopen, 1 chất chống oxy hóa mạnh, có thể giúp chống lại các bệnh có liên quan đến tuổi tác như ung thư (đại trực tràng, tuyến tiền liệt, vú, nội mạc tử cung, phổi, tụy), các bệnh tim mạch, thoái hóa cơ. Cà chua còn có tính chất chống lại viêm nhiễm, giảm viêm khớp, và các bệnh thoái hóa như bệnh mất trí do tế bào não suy thoái (alzheimer). Thật không đáng ngạc nhiên khi có nhận xét rằng “mỗi ngày ăn 1 quả cà chua giúp tránh xa bác sĩ”.

I. Các chất  dinh dưỡng nào cần cho cà chua ?

Cà chua chỉ có thể cho quả chứa nhiều vitamin, màu sắc đẹp, quả có mùi vị đặc trưng với điều kiện cung cấp đủ và cân đối dinh dưỡng.

1. Dinh dưỡng cần thiết

Cũng như các cây trồng khác, cà chua cần 16 nguyên tố cacbon, hydro, oxy, nitơ, phốt pho, kali, can xi, magie, lưu huỳnh, bo, clo, đồng, sắt, măng gan, molypden, kẽm. Ba chất cacbon, hydro, oxy được coi là thành phần cấu trúc, những chất còn lại là chất khoáng.

2. Thành phần cấu trúc cần thiết

Cacbon, hydro, oxy được kết hợp trong quá trình quang hợp để hình thành nên hydrat cacbon. Cà chua thuộc nhóm quang hợp C3, do đó sản phẩm đầu tiên của quang hợp là hydratcacbon 3 cacbon, đây là các viên gạch xây nên cấu trúc tế bào và là thành phần của các tổ chức của cây cà chua.

3. Các chất khoáng cần thiết

13 chất khoáng được cây hút từ đất trong cả dạng anion và cation. Những chất chính (đa lượng và trung lượng) trong cây có với tỷ lệ 0,5-10%, trong khi các yếu tố vi lượng chỉ có 0,01%. Như vậy các chất khoáng chỉ chiếm 0,5-10% chất khô của cây, số còn lại là các yếu tố cấu trúc. 4 nguyên tố then chốt là nitơ, can xi, kali và phốtpho đóng vai trò chính trong sản xuất cà chua.

3.1. Ni tơ (N) : là thành phần của diệp lục có vai trò quan trọng trong quang hợp. Nitơ giúp thân lá phát triển, thúc đẩy sinh trưởng, nở hoa, đậu quả nhưng kéo dài thời gian chín của quả, giảm kích thước quả. Cà chua cần nitơ để tổng hợp nên protein, diệp lục, coenzyme. axít amin và axít  nucleic. Cà chua không thể tự tạo ra nitơ do đó nó cần được bổ sung nguồn nitơ  từ bên ngoài vào đất trước khi trồng và suốt quá trình sinh trưởng. Giai đoạn cây con cần ít nitơ để đảm bảo cây có độ cứng cáp. Giai đoạn tiếp theo cây cần nhiều nitơ  để tạo cấu trúc cơ bản. Nitơ là chất dinh dưỡng duy nhất mà cây cà chua có thể sử dụng ở cả 2 dạng anion Nitrat (NO3-) và cation amôn (NH4+). Nếu NH4+ là nitơ chính thì có thể gây độc cho cây và giảm đáng kể năng suất. Tuy nhiên,ở giai đoạn đầu sinh trưởng, NH4+ lại được sử dụng nhiều vì nó giúp cây sinh trưởng và phát triển. Nhưng khi cây bước vào giai đoạn sinh sản NH4+ có thể  ảnh hưởng bất lợi đến sự sinh trưởng, năng suất quả và gây hiện tượng thối đỉnh quả (BER), đây là hiện tượng hay xẩy ra trên quả cà chua. Do đó tỷ lệ amôn bón vào cây có ảnh hưởng trực tiếp đến anion ở vùng rễ, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến độ pH vùng rễ.  Đổi lại, pH của môi trường bên ngoài có thể ảnh hưởng tới việc hút phốtpho và các vi lượng. Điều này có thể làm rối loạn dinh dưỡng. Hơn nữa dạng nitơ cung cấp cho cây có thể ảnh hưởng đến việc hút các chất đa lượng khác vì sự đối kháng ion và ảnh hưởng đến trao đổi chất trong cây bởi các chu trình đồng hóa trong tế bào. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cà chua rất mẫn cảm với nitơ amôn, nó có thể gây nên sự suy giảm sinh trưởng và hạn chế năng suất nếu tỷ lệ N-NH4+/N tổng số ở mức 0,1 đến 0,25 (phụ thuộc vào pH vùng rễ). Trong dung dịch dinh dưỡng nếu NH4+ chiếm tới 25% lượng nitơ nó sẽ làm giảm số lượng và trọng lượng tươi của quả, số lượng quả bị thối đỉnh cũng tăng lên. Nếu bón amôn ở mức 10% so với đạm tổng số thì còn có tác dụng tăng hương vị quả có thể do tăng hàm lượng glutamin và glutamat. Vì thế người ta cho rằng sử dụng Ure cho cà chua là tốt nhất. Triệu chứng thiếu nitơ : các lá dưới biến vàng, các lá trên và hoa nhỏ và không phát triển. Thừa nitơ : cây phát triển quá mạnh, lá xanh sáng, có rất ít hoa hoặc có hoa nhưng đậu quả rất ít.

3.2. Can xi (Ca): cà chua cũng rất cần canxi để giúp làm vững thành tế bào, tăng trưởng và phân chia tế bào. Can xi còn giúp cây đồng hóa nitơ. Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hàm lượng canxi ở vùng rễ thấp là yếu tố hạn chế sinh trưởng dinh dưỡng cây cà chua, hơn nữa nhu cầu dinh dưỡng canxi cần đặc biệt quan tâm vì liên quan mật thiết đến bệnh thối đỉnh quả, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thương phẩm và chất lượng quả. Mặc dù hiện tượng thối đỉnh quả còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kể cả kỹ thuật canh tác, hàm lượng dinh dưỡng của canxi, NH4-N, kali và magiê, độ mặn, ẩm độ, pH và độ thông thoáng của vùng đất quanh rễ, ngoài ra độ ẩm không khí, nhiệt độ cũng có thể tham gia vào việc tạo nên thối đỉnh quả, nhưng canxi đóng vai trò chủ chốt vì canxi di chuyển trong cây nhờ vào dòng hơi nước, việc giảm sự vận chuyển nước làm giảm số lượng lượng có chứa can xi đến quả đang phát triển. Trong canh tác ngoài việc bón vôi trước khi cày đất, người ta còn phun vôi lên lá ở giai đoạn quả cà chua mới đậu hoặc còn non. Trong điều kiện thoát hơi nước mạnh, nhiệt độ cao, lượng canxi chuyển vào lá nhiều sẽ làm giảm lượng canxi vào quả, bệnh BER tăng lên. Trong canh tác trong những ngày độ ẩm không khí và nhiệt độ cao phun muối canxi lên lá thường được khuyến cáo để không những giảm bệnh BER, mà còn giúp cây chống chịu tốt hơn với một số bệnh do nấm như phấn trắng (Erysiphe orontii) nhờ lưu huỳnh trong muối. Ngoài ra phun canxi còn giúp cà chua tăng tính chống chịu với bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum), theo đó giống có tính chống chịu là giống có khả năng hút canxi mạnh.

3.3. Phốtpho (P) :

Cà chua cần phốtpho để phát triển protein, quang hợp, hô hấp và các quá trình vận chuyển trong trao đổi chất. Phốtpho đồng thời cũng là thành phần quan trọng của màng tế bào. Nhiều kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi bón đủ phốtpho sẽ làm tăng lượng diệp lục trên lá cà chua, có thể tăng sinh trưởng nếu được bón đủ phốtpho do phốtpho kích thích hệ rễ phát triển, tăng khả năng hút nước và dinh dưỡng, ảnh hưởng đến số lượng hoa và hoạt động của xitokinin. Vào giai đoạn cây ra hoa phốtpho trở nên quan trọng để xúc tiến việc ra hoa và đậu quả. Phốtpho còn là chất khoáng tối quan trọng để tăng chất lượng quả cà chua do phốtpho giúp cây sản sinh đường. Cùng với kali, magiê, sắt trong lá, thúc đẩy quả chín, tăng quả thương phẩm và chất lượng quả cà chua. Nếu thiếu phốtpho một ít thì không ảnh hưởng tới sinh trưởng của cà chua, nhưng nếu thiếu lâu dài sẽ giảm hiệu suất quang hợp, thông qua việc giảm tích lũy tinh bột, đồng thời nó cũng làm giảm nồng độ nitơ trong lá do giảm xitokinin trong lá. Ngoài việc xúc tiến tăng trưởng phốtpho còn có vai trò cải thiện sự hình thành hạt phấn, tăng chất lượng và số lượng hạt phấn. Cung cấp nhiều phốtpho có thể cải thiện ảnh hưởng bất lợi của hàm lượng quá mức Coban (0,5mM hoặc hơn) cũng như là độc tính của kẽm trên cây cà chua. Nếu lượng phốtpho trong đất quá nhiều cũng rất hiếm gặp triệu chứng gây độc do nguyên tố này có độ hòa tan thấp. Triệu chứng thiếu phốtpho: Lá có màu xanh tối, có viền tím

3.4. Kali (K) :

Đóng vai trò quan trọng để hình thành đường, tinh bột và tổng hợp protein. Cà chua cần kali trong quá trình quang hợp và hô hấp, tăng cường sức khỏe cây và giúp hệ rễ phát triển mạnh, ảnh hưởng đến kích thước, chất lượng quả; có vai trò quan trọng trong việc hình thành màu sắc quả, tăng lượng caroten, cá biệt tăng lycopen và giảm clorophin. Thiếu kali làm giảm độ rắn quả và hàm lượng các chất dinh dưỡng cần để sản sinh hydratcacbon và phát triển hệ rễ, quả chín không đều do đó giảm chất lượng quả. Yêu cầu kali của cà chua rất cao vì nó gắn liền với việc thúc đẩy hình thành và phát triển quả. Do yêu cầu kali rất cao nên để đối phó với việc kali ở vùng rễ thấp, cây cà chua có cơ chế đặc biệt để có đủ kali, cơ chế này do gen quyết định và chỉ thể hiện trong điều kiện lượng kali vùng rễ quá thấp, nhưng gen này không liên quan đến dinh dưỡng kali trong điều kiện cung cấp đủ kali. Kali có rất nhiều trong mật mía, rong biển, tro bếp. Việc hút kali chịu tác động nhiều của độ thông thoáng và nhiệt độ đất. Mặc dù đất có chứa nhiều kali tốt cho cây cà chua nhưng nếu quá dư thừa kali, trong điều kiện đất quá ướt thì hút kali bị giảm. Khi có hiện tượng thiếu hụt kali thì mép lá bị vàng và chết. Tuy nhiên, nếu quá nhiều kali thì việc hấp thụ các chất dinh dưỡng khác bị hạn chế đặc biệt là hấp thụ canxi.  Triệu chứng thiếu Kali  : những lá phía dưới có màu xanh tối, lá quăn và mép lá xoắn lại.

3.5. Magiê (Mg) : Mg kích thích hoạt động của nhiều men, giữ hàng loạt chức năng trong cây cà chua. . Là thành phần của diệp lục tố nên Mg đóng vai trị quan trọng trong việc đồng hóa carbonic (CO2) và tổng hợp protein, giúp cây tăng trưởng nhanh, hạn chế bệnh do nấm. Giúp cây có thể kiểm soát được việc hấp thu nitơ, mang phốtpho trong toàn bộ cây, xúc tiến hoạt động của các men và đặc việt đóng vai trò quan trọng trong quang hợp. Hàm lượng magiê  ở vùng rễ cao có lợi cho cà chua. Tuy nhiên, sự thiếu magiê dễ dàng xảy ra. Việc thiếu hụt magiê xẩy ra trước tiên khi có hiện tượng không cân đối giữa các nguyên tố kali và canxi cọng với NH4+ vì magiê là cation cạnh tranh kém nhất trong so với 3 nguyên tố trên. Hơn nữa biểu hiện thiếu hụt (héo giữa các gân của lá già)có thể là một chỉ thị do độ ẩm quá cao hay quá thấp. Thiếu hụt magiê nghiêm trọng có thể gây ra hiện tượng thối đỉnh quả BER. Một số giống cà chua khá mẫn cảm với magiê và rất dễ dạng chỉ ra sự thiếu hụt trên các lá trưởng thành, mặc dù có thể magiê có đủ ở vùng rễ. Triệu chứng thiếu magiê : giữa các gân lá bị biến vàng, nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm lá vàng, mỏng và ngừng sinh trưởng.

4. Những nguyên tố vi lượng quan trọng

Những vi lượng được nghiên cứu nhiều là bo, sắt và kẽm. Sự thiếu hụt các chất vi lượng thường gặp ở đất cát, pH đất cao hoặc khi không có sự cân bằng các nguyên tố đa lượng, hoặc vượt quá mức như phốtpho chẳng hạn. Trong đất chua có nhiều mănggan và khi phốtpho tự do cao.

4.1. Bo (B) : . B tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa tế bào, trao đổi hocmon, trao đổi N, nước và chất khoáng khác, ảnh hưởng rõ rệt nhất của B là tới mô phân sinh ở đỉnh sinh trưởng và quá trình phân hóa hoa, thụ phấn, thụ tinh, hình thành quả.

Sự thiếu hụt bo sẽ không xảy ra nếu không có những điều kiện bất thuận xảy ra như căng thẳng về nhiệt độ và ẩm độ, đất cát có ít chất hữu cơ. Sự thiếu hụt bo trong sản xuất cà chua là vấn đề quan trọng làm giảm năng suất và chất lượng quả. Hàm lượng bo ở vùng rễ thấp làm lá cà chua giòn và xuất hiện màu xanh nhạt, li tầng rời, độ cứng quả giảm, là vấn đề tồi tệ trong bảo quản. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bón bổ sung bo bằng phun phân lên lá tăng hàm lượng bo và kali trong quả, điều này chứng tỏ rằng bo được chuyển dịch từ lá đến quả đồng thời kéo theo sự di chuyển kali trong cây. Hơn nữa nó còn cải thiện việc hút canxi, magiê, natri, kẽm. Triệu chứng thiếu bo : chồi ngọn bị chết, các chồi bên cũng thui dần, hoa không hình thành, tỷ lệ đậu quả kém, quả dễ rụng, rễ sinh trưởng kém, lá bị dày lên.

4.2. Sắt (Fe) : Thiếu hụt sắt là vấn đề dinh dưỡng các cây trồng gặp phải thường xuyên khi pH trong vùng rễ quá cao. Tuy nhiên, cà chua gần như không mẫn cảm với sự thiếu hụt này ở điều kiện pH đất tương đối cao (6-7). Việc bón một phần N-NH4 có thể giảm triệu chứng vàng lá ở cà chua. Sử dụng sắt chelates phun lên lá có thể giải quyết được sự thiếu hụt sắt. Người ta đã nghiên cứu và cho thấy khi bón hỗn hợp sắt – EDDHA với phân hữu cơ hay mùn hoặc phun phân có chứa axít amin có thể cải thiện được việc hút sắt. Sự thiếu hụt sắt ở cà chua được thể hiện rõ ở việc giảm sút hàm lượng diệp lục trong lá. pH vùng rễ, kiểu gen, mức độ sắt dễ tan, phốtpho, bicacbonat, các chất hữu cơ và độ ẩm ở vùng rễ có thể ảnh hưởng tới việc hút sắt. Hàng loạt các gen có liên quan đến việc hút sắt dưới điều kiện thiếu sắt ở vùng rễ. Trong điều kiện đất kém, việc thiếu sắt gần như không rõ ngoại trừ sắt linh động quá thấp hoặc pH đất trên 7,0. Triệu chứng thiếu sắt (mép lá chuyển màu xanh nhạt hoặc vàng) chỉ xảy ra khi quá thiếu nước, giai đoạn cây sinh trưởng mạnh hoặc thay đổi chế độ chiếu sáng. Sắt ở dạng FeDTPA được khuyến cáo nên sử dụng để bổ sung dinh dưỡng cho cà chua do chúng khá bền vững trong dung dịch, còn FeEDTA có thể gây độc cho cây do đó không nên dùng. Việc bổ sung sắt qua phun lên lá cũng được khuyến cáo.

4.3. Kẽm (Zn): Kẽm  tham gia hoạt hóa khoảng 70 men của nhiều hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây. Thiếu kẽm sẽ gây rối loạn trao đổi auxin nên ức chế sinh trưởng, lá cây bị biến dạng, ngắn, nhỏ và xoăn, đốt ngắn và biến dạng. Triệu chứng thiếu kẽm thể hiện các lóng cây bị ngắn và mảnh, biên lá bị xoắn và các vết đốm vàng phân bố không đều trên lá già, có thể giả quyết bằng phun phân có kẽm lên lá. Sự thiếu hụt kẽm đôi khi không có triệu chứng nhìn thấy, nhưng kết quả là cây sinh trưởng chậm và giảm tỷ lệ đậu quả. Nhiễm độc kẽm có thể được cải thiện bằng việc phun phân có chứa phốtpho và sắt. Trong đất nếu phốtpho lưu động quá cao có thể làm giảm hút kẽm.

4.4. Mănggan (Mn): Tại vùng rễ hàm lượng mănggan cao quá hoặc thấp quá đều hạn chế sinh trưởng của cà chua. Bình thường, hàm lượng mănggan cao ở vùng rễ làm giảm hút sắt. Đối với các chất vi lượng việc bổ sung qua phân bón cần phải dựa vào kết quả phân tích đất, vì quá thừa sẽ gây ngộ độc, còn thiếu thì làm ảnh hưởng đến sinh trơpngr phát triển của cây cà chua.

4.5. Molypden (Mo): Mo có vai trò rất quan trọng trong việc trao đổi nitơ, tổng hợp Vitamin C và hình thành lục lạp của cây cà chua.

II. pH và cấu trúc đất

Nếu không có pH thích hợp rất nhiều chất dinh dưỡng cây không thể hút được. Nếu pH thấp các chất đa lượng trở nên không đủ. pH phù hợp là từ 6-6,5. Cấu trúc đất tốt giúp vận chuyển nước và chất khoáng, tạo điều kiện cho hệ vi sinh vật đất  phát triển. Đất được cải thiện tốt nếu được bổ sung phân ủ cho hệ rễ cà chua phát triển và tăng độ thông thoáng.

III. Bón phân cho cà chua như thế nào ?

Cây cà chua thường phát triển thân lá nhiều, lượng chất dinh dưỡng cây hút khá cao. Với năng suất 50 tấn quả/ha cà chua lấy đi từ đất  150kg N, 40kg P2O5, 300 kg K2O, cùng một lượng đáng kể canxi và magiê. Thức ăn cho cà chua  phụ thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng. Thời gian đầu cần tỷ lệ 2 : 1 : 2 (N : P : K). Ở gia đoạn cây tăng trưởng mạnh và hình thành nụ cần tỷ lệ 10-25-10.  Cà chua cần nhiều đạm trong thời gian sinh trưởng cho đến khi cây ra quả. Kali cần cho cà chua trong suốt thời gian sinh trưởng và đặc biệt là trong thời gian bắt đầu ra hoa và hình thành quả. Nhu cầu dinh dưỡng kali của cà chua cao gấp 2 lần dinh dưỡng đạm. Cân đối đạm-kali là yếu tố quan trọng hàng đầu trong dinh dưỡng của cà chua. Bón cân đối đạm - kali có thể làm tăng năng suất quả cà chua 39-88%với hiệu suất 1 kg K2O tạo ra 89-127 kg quả cà chua trên đất bạc màu. Trên đất xám, bón cân đối đạm - kali làm tăng  năng suất cà chua 9-11%. Bón cân đối đạm-kali còn làm tăng phẩm chất quả cà chua: tăng kích thước quả, tăng hàm lượng đường trong quả, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận của cây. Đặc biệt bón cân đối đạm-kali làm giảm đáng kể số cây bị bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh xoăn lá vi rút và các loại bệnh từ nấm. Cà chua không tích luỹ nitrat nhiều trong quả vì ion này phần lớn tập trung ở lá. 

IV. Bón phân  ước mơ nhà nông – giải pháp bón phân cân đối cho cà chua

            1. Ở giai đoạn cây con :

Đối với cà chua hoặc bất kỳ một loại rau nào cây con khỏe là điều kiện quan trọng để cho một vườn sản xuất cà chua đại trà tốt. Giai đoạn cây con ở vườn ươm, cần chọn vườn có đất tơi xốp, thoát nước, do đó bón lót phân Ước mơ nhà nông dạng rắn  đáp ứng được yêu cầu trên. Trong giai đoạn này cây cần nhiều đạm để tăng trưởng chiều cao, lân để phát triển mạnh hệ rễ và kali giúp cho cây mập, tăng tính chống chịu. Việc kết hợp phun phân Ước mơ nhà nông “M”  ở giai đoạn cây có 3 và 5 lá thật đảm bảo cây con khỏe, mập, không bị sâu bệnh, hứa hẹn một ruộng cây sản xuất có tiềm năng.

2. Giai đoạn sau cấy đến ra hoa : bón lót phân bón ước mơ nhà nông dạng rắn (có bổ sung tro bếp) trước khi cấy, và phun phân Ước mơ nhà nông “M” sau khi cây hồi xanh.

3. Giai đoạn cây ra hoa và thu quả : Lúc này cây cần nhiều phốt pho và kali hơn để có nhiều hoa và khả năng đậu quả cao. Phốtpho giúp cho cây phát triển hệ rễ và hình thành hoa, còn kali tham gia trong hàng loạt các động sống khác kể cả giúp cho cây vận chuyển nước. Nếu không có đủ kali, quả sẽ không phát triển đầy đủ, quả không hình thành đường, do đó không đủ ngọt và thậm chí việc tạo màu quả bị ức chế, ở giai đoạn này nếu thiếu kali quả sẽ bị rơi rụng. Để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây cà chua nên thường xuyên phun phân Ước mơ nhà nông “M” ở giai đoạn cây nở hoa và đậu quả với tần suất 7- 10 ngày một lần. Đặc biệt nên bón phân Ước mơ nhà nông dạng rắn bổ sung tro bếp khi cây bắt đầu ra hoa. Bón phân cân đối chắc chắn sẽ cho mội vụ bội thu và chất lượng quả cà chua tốt.

.

 

 

Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón

 

TS. Mai Thị Phương Anh

Công ty cổ phần Kỹ thuật Môi trường

 

Lời mở đầu

 

Lúa là cây lương thực chính của khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân các nước châu Á. Bình quân 1 người tiêu thụ 180 - 200 kg gạo/ năm tại các nước châu á và khoảng 10 kg/ năm tại các nước châu Mỹ. Ở Việt Nam, từ năm 1986 đến nay đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, từ chỗ là nước thiếu ăn triền miên đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới. Năm 1980, Galston đã tìm ra 16 nguyên tố cần thiết cho cây trồng là: C,H,O, N, P, K, S, Mg, Mn, Ca, Fe, Cu, Zn, Mo, B, Cl. Đến năm 1998, Lincoln Taiz đã bổ sung thêm 3 nguyên tố thiết yếu nữa là Na, Si, Ni. thiếu một trong số chúng thì cây trồng không thể hoàn thành chu kỳ sống của mình. Tuy nhiên, đối với từng cây trồng nhu cầu 19 nguyên tố dinh dưỡng này khác nhau.

I. Các nguyên tố dinh dưỡng nào cần thiết cho sinh trưởng, phát triển cây lúa ?

Các chất dinh dưỡng cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa là: các-bon, ô-xy, hyđrô (từ thiên nhiên) và các chất khoáng : nitơ (N), phốtpho (P), kali (K), canxi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, mô-líp-đen, bo, silic, lưu huỳnh, trong đó 3 yếu tố dinh dưỡng cây lúa cần với lượng lớn là: nitơ, phốtpho và kali, các nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít.

1. Nitơ : là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất với cây lúa. Nitơ có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng cũng như các hoạt động sinh lý của cây, là thành phần cấu tạo nên protein, tế bào và mô cây, thúc đẩy quá trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ; giữ vai trò quan trọng trong hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và cho sự sinh trưởng và phát triển của thân lá. Đủ nitơ, thân lá phát triển tốt, lúa đẻ nhánh mạnh, đòng to, bông lớn, năng suất cao. Các bộ phận non của cây lúa có hàm lượng nitơ cao hơn các các bộ phận già. Nitơ có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trưởng và tác dụng rõ rệt nhất của nitơ đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số nhánh đẻ. Cây lúa hút nitơ nhiều nhất vào hai thời kỳ: đẻ nhánh và làm đòng. Khi kết thúc thời kỳ phân hóa đòng, hầu như cây lúa đã hút trên 80% tổng lượng nitơ cho cả chu kỳ sinh trưởng.

Triệu chứng thiếu nitơ thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây, cây sinh trưởng phát triển kém, hàm lượng diệp lục giảm, lá chuyển màu vàng, nhỏ, cây thấp, đẻ nhánh kém, giai đoạn làm đòng thì đòng nhỏ, trỗ sớm hơn và không đều, số bông và số lượng hạt ít hơn, năng suất giảm.

Thừa nitơ cho lá lúa to, dài, nhưng phiến mỏng, nhiều, màu xanh đen, thân nhỏ yếu, cây cao vóng, lốp đổ, lúa đẻ nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, nhiều hạt lép, dễ bị sâu bệnh tấn công làm giảm năng suất, hiệu suất kinh tế thấp.

Nhu cầu về nitơ của cây lúa phụ thuộc vào mùa vụ gieo cấy, độ màu mỡ của đất, tiềm năng năng suất của giống lúa, thời gian và cách bón phân bổ sung. Dạng nitơ vô cơ được dùng bón cho lúa là Urê, ngoài ra nguồn phân hữu cơ có vai trò quan trọng trong cung cấp nitơ cho cây.

2. Phốtpho (P)

Tính theo chất khô, tỉ lệ phốtpho nguyên chất (P2O5) chiếm khoảng 0,2% trong rơm rạ và khoảng 0,48% trong gạo. Phốtpho tham gia vào thành phần ADN và ARN của cây lúa, phốtpho có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành diệp lục, vào quá trình hình thành chất béo, tổng hợp prôtêin trong cây và vận chuyển tinh bột, làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút. Trong một số trường hợp đất phèn và đất phèn mặn thì phốtpho có vai trò kìm hãm các độc tố giúp cho lúa sinh trưởng và phát triển.Tỉ lệ phốtpho cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa. Cây lúa hút phốtpho trong suốt thời kỳ sinh trưởng nhưng mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng. Giai đoạn đầu nhu cầu về phốtpho của cây lúa rất thấp. Đủ phốtpho cây đẻ khỏe, bộ rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trong điều kiện nhiệt độ thấp trong vụ đông xuân, hạt thóc mẩy và sáng.

Thiếu phốtpho cây còi cọc, số lá ít, lá ngắn, phiến lá hẹp, lá dựng đứng, xanh tối, đẻ nhánh kém, trỗ bông chậm, chín kéo dài, nhiều hạt xanh, hạt lép, số bông và số hạt/bông đều giảm.

Thừa phốtpho không có biểu hiện gây hại như thừa N vì P thuộc loại nguyên tố linh động, nó có khả năng vận chuyển từ cơ quan già sang cơ quan còn non.

Trong sản xuất, khi bón phân phốtpho cho lúa, lượng phốtpho supe bao giờ cũng gấp 1,5-2 lần so với urê và bón lót toàn bộ phân phốtpho để cung cấp kịp thời phốtpho cho sự phát triển của bộ rễ lúa.  phốtpho supe (supe lân ) bón lót cho đất ít chua, còn phốtpho nung chảy (hay còn gọi là técmo phốtphát) dùng cho nhiều loại đất, đặc biệt có tác dụng ở đất chua.

3. Ka li (K) : quan trọng nhất đối với nhóm cây chứa nhiều đường hay tinh bột. Trong cây lúa, tính theo chất khô, tỉ lệ kali nguyên chất (K2O) chiếm khoảng 0,6-1,2% trong rơm rạ và khoảng 0,3-0,45% trong gạo. Khác với nitơ và phốtpho, kali không tham gia vào thành phần bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào mà chỉ tồn tại dưới dạng ion trong dịch bào và một phần nhỏ kết hợp với chất hữu cơ trong tế bào chất của cây lúa. Kali chiếm tỉ lệ cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa, tồn tại dưới dạng ion nên có thể len lỏi vào giữa các bào quan, xúc tiến quá trình vận chuyển dinh dưỡng, giúp cây lúa tăng cường hô hấp. Kali còn giúp thúc đẩy tổng hợp prôtit, hạn chế việc tích lũy nitrat trong lá, hạn chế tác hại của việc bón thừa nitơ cho lúa. Ngoài ra kali còn giúp bộ rễ tăng khả năng hút nước và cây lúa không bị mất nước quá mức ngay cả trong lúc gặp khô hạn, kali làm tăng khả năng chống hạn và chống rét cho cây lúa. K làm tăng hiệu quả sử dụng N và P. Cây lúa được bón đầy đủ kali phát triển cứng cáp, không bị ngã đổ, chịu hạn và chịu rét tốt.

- Triệu chứng thiếu K là lá hẹp, ngắn, xuất hiện các chấm đỏ, lá có màu lục tối, mép lá có màu nâu hơi vàng, lá dễ héo rũ và khô. Cây lúa thiếu K sinh trưởng kém, trỗ sớm, chín sớm, nhiều hạt lép lửng, mép lá về phía đỉnh biến vàng. Khi tỉ lệ kali trong cây giảm xuống chỉ còn bằng 1/2-1/3 so bình thường thì mới thấy xuất hiện triệu chứng thiếu kali trên lá, cho nên khi triệu chứng suất hiện thì năng suất đã giảm nên việc bón kali không thể bù đắp được

Phân kali bón cho lúa chủ yếu là Kali Clorua (KCl) hay gọi là MOP

4. Silic (Si)

- Silic giúp cho lá mọc vươn thẳng, tạo điều kiện cho cây hấp thu ánh sáng tốt hơn, tăng khả năng quang hợp, tăng hiệu lực phân nitơ. Tác dụng tương hỗ giữa silic với lượng phốtpho giúp cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, cây tăng trưởng nhanh làm pha loãng nồng độ sắt, nhôm trong cây do đó làm tăng khả năng chống chịu phèn cho cây.

- Trong đất, silic có khả năng tạo phức với sắt, nhôm và mangan thành những hợp chất khó tan làm hạn chế sự thu hút các chất này vào trong cây, nhờ vậy cây tránh được tình trạng bị ngộ độc do hàm lượng sắt, nhôm và mangan quá cao (trong đất chua phèn), bộ rễ phát triển mạnh, giảm hiện tượng vàng lá, cháy lá do xì phèn.

- Bón Si vào đất làm tăng hàm lượng phốtpho dễ tiêu cho cây nhờ tác dụng làm giảm sự giữ chặt P trong đất, vì vậy giúp tăng sự thu hút phốtpho của cây. Sự tích tụ silic trong lớp tế bào biểu bì trên bề mặt lá là rào cản vật lý ngăn chặn sự xâm nhiễm của bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, khô vằn, đốm nâu,  lem lép hạt do nhiều loại nấm gây ra và cả cháy bìa lá cũng như tuyến trùng rễ.

Silic không phải là một dưỡng chất chủ yếu của cây lúa, thiếu silic lúa không chết, nhưng lúa hấp thụ rất nhiều silic, nhiều gấp 4 lần chất nitơ (N). Nhu cầu silic rất thấp ở lúa ở giai đoạn mạ và con gái, nhưng rất cao ở giai đoạn sinh sản. Ở đất phèn, silic còn giúp cây lúa ngăn ngừa ngộ độc mangan và sắt bằng cách nở rộng đường vận chuyển ôxy từ lá xuống rễ, giúp rễ nhận được nhiều ôxy hơn để ôxyt hóa sắt và mangan, làm các chất này không còn hòa tan trong dung dịch đất, hạn chế sự hấp thụ của rễ lúa đối với những độc chất này.

5. Lưu huỳnh (S): Lưu huỳnh tham gia trong thành phần protein, axit amin, vitamin, có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi lipit và sự hô hấp của cây.

Triệu chứng thiếu S vàng lá như khi thiếu N, nhưng xuất hiện ở các lá non trước các lá trưởng thành và lá già. Khi cây thiếu S, gân lá chuyển vàng trong khi phần thịt lá vẫn còn xanh, sau đó mới chuyển vàng. Kèm theo những tổn thương trước hết ở phần ngọn và lá non, cộng với sự xuất hiện các vết chấm đỏ trên lá do mô tế bào chết.

6. Canxi (Ca): Canxi có vai trò quan trọng trong việc hình thành tế bào, hình thành các mô cơ quan của cây’ là thành phần quan trọng trong vách tế bào, giữ cho thành tế bào được vững chắc giúp cây tăng trưởng khỏe mạnh, hạn chế sâu bệnh, duy trì cân bằng anion-cation trong tế bào, trung hòa các acid hữu cơ trong cây giúp giải độc hữu cơ, giải độc phèn cho cây, làm tăng pH đất giúp giảm độc tố sắt, nhôm, làm đất tơi xốp, cải thiện tính thấm nước và thông thoáng nhờ đó cải thiện điều kiện phát triển của rễ, kích thích hoạt động của vi khuẩn, làm tăng khả năng hữu dụng của molipdent (Mo) và sự hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác.

Triệu chứng đặc trưng của cây thiếu Ca là các lá mới ra bị dị dạng, chóp lá uốn câu, rễ kém phát triển, ngắn, hóa nhầy và chết. Ca là chất không di động trong cây nên biểu hiện thiếu Ca thường thể hiện ở các lá non trước.

7. Magiê (Mg): Mg rất cần đối với lúa, là thành phần quan trọng của phân tử diệp lục quyết định hoạt động quang hợp của cây, là chất hoạt hóa của nhiều men quan trọng đối với quá trình hô hấp và trao đổi chất của cây, làm tăng hàm lượng tinh bột trong sản phẩm, giúp cây tăng trưởng nhanh, đẻ nhánh mạnh, hạn chế bệnh do nấm, giúp cây thu hút được nhiều phốtpho và các dưỡng chất khác.

Triệu chứng điển hình là các gân lá còn xanh trong khi phần thịt lá đã biến vàng. Xuất hiện các mô hoại tử thường từ các lá phía dưới, lá trưởng thành lên lá non, vì Mg là nguyên tố linh động, cây có thể dùng lại từ các lá già. Thiếu Mg làm chậm quá trình ra hoa, cây thường bị vàng lá do thiếu diệp lục.

8. Sắt (Fe): Vai trò quan trọng nhất của sắt là hoạt hóa các men của quá trình quang hợp và hô hấp, mặ dù không tham gia vào thành phần diệp lục nhưng có ảnh hưởng quyết định tới sự tổng hợp diệp lục trong cây. Hàm lượng sắt có quan hệ mật thiết đến hàm lượng diệp lục trong lá cây.

Lá cây thiếu sắt sẽ chuyển từ màu xanh sang vàng hay trắng ở phần thịt lá, trong khi gân lá vẫn còn xanh. Triệu chứng thiếu sắt xuất hiện trước hết ở các lá non, sau đến lá già, vì Fe không di chuyển được từ lá già về lá non. Thiếu hụt Fe thường xảy ra trên nền đất có đá vôi.

9. Mangan (Mn): là nguyên tố hoạt hóa rất nhiều men của các quá trình quang hợp, hô hấp và cố định nitơ phân tử, có vai trò xúc tác trong một số phản ứng men và chu trình sinh lý, kiểm soát oxy trong tế bào ở cây pha sáng và tối.

Triệu chứng điển hình khi cây thiếu Mn là phần gân lá và mạch dẫn biến vàng, nhìn toàn bộ lá có màu xanh sáng, về sau xuất hiện các đốm vàng ở phần thịt lá và phát triển thành các vết hoại tử trên lá. Nếu thiếu nghiêm trọng sẽ gây khô và chết lá.

10. Đồng (Cu): là nguyên tố hoạt hóa nhiều men của quá trình tổng hợp protein, axit nucleic và dinh dưỡng nitơ của cây, thành phần của nhiều men.

Thiếu đồng thường xảy ra trên những vùng đất đầm lây, ruộng lầy thụt, thiếu đồng làm mất màu xanh ở phần ngọn lá.

11. Bo (B): tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa tế bào, trao đổi hocmon, trao đổi N, nước và chất khoáng khác, ảnh hưởng rõ rệt nhất của B là tới mô phân sinh ở đỉnh sinh trưởng và quá trình phân hóa hoa, thụ phấn, thụ tinh, hình thành quả, tăng khả năng thấm ở màng tế bào, giúp vận chuyển hydrate carbon dễ dàng, quan trọng trong quá trình sự phân chia tế bào, giúp điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây.

Triệu chứng thiếu B : chồi ngọn bị chết, rễ sinh trưởng kém, lá bị dày lên, hoa không hình thành, tỷ lệ lép cao.

12. Molypden (Mo): có vai trò rất quan trọng trong việc trao đổi nitơ và hình thành lục lạp, là thành phần của men khử nitrate và men nitrogenase.

Thiếu Mo sẽ ức chế dinh dưỡng nitơ của cây.

13. Kẽm (Zn): tham gia hoạt hóa khoảng 70 men của các chu trình sinh lý, sinh hóa, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic và protein, tăng cường khả năng sử dụng phốtpho và nitơ trong cây.

Thiếu Zn sẽ gây rối loạn trao đổi auxin nên ức chế sinh trưởng, lá cây bị biến dạng, ngắn, nhỏ và xoăn, đốt ngắn và biến dạng.

II. Độ pH của đất ảnh hưởng đến cây lúa như thế nào?

 Độ pH tác động nhiều đến các tính chất vật lý, hóa học và vi sinh vật đất  đến sự phát triển và năng suất của cây lúa. Độ pH ảnh hưởng tới khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất. Khoảng pH tối ưu cho cây lúa phát triển là từ 5 - 7. Độ pH thấp có thể kích thích làm cho cây lúa nhạy cảm hơn với các chất độc và một số bệnh, pH cao các ion bicacbonat và natri có thể làm giảm sản lượng lúa.

Cây lúa đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu hụt kẽm; lượng kẽm cũng như sắt dễ hấp thụ sẽ giảm khi pH > 7. Photpho thường phát huy hết tác dụng ở độ pH 6 - 7, còn đối với canxi và kali thì ở độ pH < 6. Nếu pH cao quá 7 thì urê và amoni sulfat có thể bị chuyển hóa thành khí amoniac, đặc biệt đối với đất chứa canxi cacbonat. Độ pH thấp sẽ làm giảm tốc độ vi khuẩn giải phóng nitơ từ các chất hữu cơ. Lưu huỳnh (lưu huỳnh nguyên tố và axit sulfuric) có thể hạ thấp độ pH của đất, tăng sản lượng lúa.

III. Ảnh hưởng của phân bón Ước mơ nhà nông đối với dinh dưỡng cây lúa  

Thành phần và đặc điểm phân bón Ưc mơ Nhà nông (AGRODREAM) đóng vai trò quyết định các tính chất lý, hóa, khả năng điều kiện dinh dưỡng và hấp phụ trao đổi của đất. Bón Ước mơ nhà nông dạng rắn  làm tăng khả năng trao đổi cation (CEC) của đất, giữ chất dinh dưỡng giúp ngăn ngừa sự rửa trôi chất dinh dưỡng ra khỏi vùng rễ, đồng thời có thể phóng thích chất dinh dưỡng ở dạng hữu dụng cho cây khi cần thiết, làm tăng sự chuyển hóa phân bón, tăng sự hấp thu dưỡng chất vào cây. Tăng độ thông thoáng đất, giúp hệ vi sinh vật đất phát triển mạnh, cải thiện đáng kể lý tính và thành phần cơ giới đất như. Phun phân bón lá Ước mơ nhà nông “M bổ sung các chất dinh dưỡng thiếu hụt, giảm bón phân vô cơ, tăng tỷ lệ gạo/thóc, tăng năng suất, chất lượng gạo