Trang chủ

Giới thiệu

Ý kiến khách hàng

Sản phẩm

Liên hệ

Thông tin hoạt động
Giấy phép Pháp lý
Dinh dưỡng
Gardening guides
Hỏi và đáp
Tìm kiếm
Văn bản
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Giấy phép được phép lưu hành toàn quốc của Bộ Nông nghiệp
Công văn của Cục Trồng trọt, Bộ NN và PTNT ngày gửi các Sở NN & PTNT..
Mô hình tham quan
Khu vực sản xuất lúa sử dụng Ước mơ nhà nông dạng rắn tại xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam ĐỊnh
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Mô hình Cà chua
Mô hình Hòa lạc
Số lượt truy cập : 579506
Số người trực tuyến : 54
 
 

Cần Nông

CẦN NÔNG

Trích từ sách Người đời nên biết, nhà xuất bản Văn học, 2001

Tác giả: Cao Xuân Dục

Bác học Triều Nguyễn,  1842 –  1923

 

Lời giới thiệu của ETC

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, do vất vả và công lao động thấp nên xu hướng phổ biến là cắt giảm qui trình chăm sóc, không chú ý thích đáng tới chất lượng sản phẩm. Việc này tưởng chừng sẽ mang lại lợi nhuận nhưng thực tế đã có kết quả ngược lại như thất bát trong sản xuất, năng suất thấp, sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu gây bệnh tật cho mình và cho người sử dụng. Việc cắt giảm qui trình chăm sóc cây trồng còn làm cho ngành sản xuất nông nghiệp ngày càng lạc hậu so với thế giới do không thể tiếp cận được các tiến bộ khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ.

Sản xuất nông nghiệp không thể không chăm chỉ, nếu không chăm chỉ lao động và học hỏi thì không thể có kết quả tốt. Nhằm làm rõ chữ Tam Cần trong tám chữ “Nhất nước, Nhì phân, Tam cần, Tứ giống” đánh giá cao những lời khuyên trong bài viết “ Cần Nông” của nhà Bác Học Cao Xuân Dục, muốn nhấn mạnh tính hiện đại của Cần Nông, ETC xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc để tham khảo.

CẦN NÔNG

THỰC HÓA CHÍ: mở mang đất đai, trồng trọt, ngũ cốc gọi là nông.

GIA NGÔN

TẢ TRUYỆN: Dân sinh ở chuyên cần. Chuyên cần thời không cùng tận.

NAM TỐNG THƯ: Nhân sinh ở chuyên cần, nên gắng việc nghề nông làm đầu.

NGƯ TIỀU TỬ: Xác lập sự sống còn của thiên hạ là ở nghề nông vậy.

KINH DỊCH- QUẺ TỈNH: Người quân tử  lấy việc úy lạo dân để khuyến khích giúp  đỡ lẫn nhau.

LỄ KÝ – VƯƠNG CHẾ: Ba năm cày bừa ắt có một năm lương thực. Chín năm cày bừa ắt có ba năm lương thực.

MẠNH TỬ - THIÊN TẬN TÂM: Khoảnh ruộng trăm mẫu kẻ thất phu lo việc canh tác, thì một gia đình tám khẩu có thể không đói.

CHU LỄ: Quan Thái tể lấy chín chức phận để lo việc vạn dân. Một, là Tam nông (làm ruộng ở đồng bằng, trên núi, dưới đầm) sinh ra chín loại lương thực (kê, cao lương, đậu, lúa, vừng, đậu lớn, đậu nhỏ, đại mạch, tiểu mạch). Hai, là vườn cây vườn rau để trồng cây cỏ (hoa quả và rau ăn).

THƯ – NGHIÊU ĐIỂN: Kính cẩn trao việc cho người.

Lại: Không thiên lệch về phẩm trật làm việc ở phía đông.

NGUYỆT LỆNH: Thiên tử  thân dẫn công khanh, chư hầu, đại phu đến cày ở mảnh ruộng dành cho hoàng đế. Thiên tử đẩy cày ba lần, tam công năm lần, chư hầu chín lần.

ÂN VŨ: Gieo gặt không thể lười biếng.

THÁNG BẢY: Ngày mùng ba sửa soạn cày bừa, ngày mùng bốn xuống đồng.

TÍN NAM SƠN: Đất đai của ta thì ta lo, khoảnh ruộng ở phía đông nam.

ĐẠI ĐIỀN: Bắt đầu đến ruộng phía nam, gieo loại Bạch cốc.

Y HY(than ôi): Ruộng anh xanh tốt. Khắp ba chục dặm. Vì anh cố gắng. Luôn luôn cày đôi.

ĐỚI NGẢI: Chở ngải chở tạc. Cày cho thật kỹ. Cào cỏ nghìn mẫu. Sạch ruộng sạch bờ.

TIỀN HÁN THƯ – THỰC HÓA CHÍ: Xuân cày, hạ bừa, thu gặt, đông chứa. Mùa xuân không được sợ gió bụi. Mùa hạ không được sợ  nóng bức. Mùa thu không được sợ mưa giầm. Mùa  đông không được sợ giá rét. Suốt bốn mùa không một ngày nghỉ ngơi.

TRÍ PHÚ KỲ THƯ (sách lạ  làm giàu): Sách về nghề nông của họ Vương nói rằng: “Phép cày ruộng, chưa cày gọi là đất sống, cày rồi gọi là đất chin. Mới cày gọi là đất lật. Cày lại gọi là đất chuyển. Đất sống cần cày sâu. Đất chín cần cày nông”.

Lại: Phiếm Thắng Chi nói rằng: “Mùa xuân thì địa khí lưu thông có thể cày  ở những nơi đất rắn, đất thó đen. Đất đã phẳng, nghiền nát những tảng to để diệt cỏ. Khi cỏ mọc, lại cày. Khi trời có mưa nhỏ lại cày cho đều, đừng để sót đất tảng để đợi thời. Thế gọi là làm mềm đất rắn. Khi mận trổ hoa thì cày sơ đất mềm một lượt. Khi hoa mận rụng thì lại cày để nhận cỏ xuống. Khi đất đã rất nhỏ đem trâu, dê giẫm đạp thì đất sẽ cứng. Thế gọi là làm cứng đất mềm.

Lại: để mọi người dân đều biết kỹ thuật cày cấy có câu nói rằng: “Cày thu nên sớm, cày xuân nên muộn”. Cày xuân muộn là để tránh rét xuân. Lúc này địa khí đã bắt đầu, lưu thông, mới có thể cày bừa. Cày thu sớm là để tranh thủ khí trời chưa rét, đất được thấm đượm khí ôn hòa của lúc này.

Lại: Phép khai hoang: Trước đốt hết cỏ  rồi cày qua một lượt, lập tức trồng cây vừng. Sau một năm khi rễ cỏ đã mục nát rồi mới trồng ngũ  cốc. Tục ngữ có câu: “Đất hoang trồng vừng một năm, cỏ không thể mọc”. Khi trời mưa nước từ lá cây vừng chảy xuống rất đắng. Cây cỏ ngấm vào phải héo. Nếu trồng thêm cây ăn quả thì chớ có trồng vừng.

Lại: Phép bừa ruộng: Vào cuối năm thì  bừa đất khiến nước lạnh đông chặt. Đến mùa xuân đem phân tro rắc xuống rồi dẫn nước vào  để rửa, sau mới gieo hạt thì hạt không bị hãm vào trong đất mà dễ mọc mầm.

Lại: Phép ngâm giống: Lúa sớm trước ngày Thanh minh. Lúa muộn trước ngày Cốc vũ. Trước khi ngâm chọn bỏ những hạt có màu hồng, rồi đem ra sông ngâm. Ngâm xong cho vào vại ủ. Ngày tưới nước thì tối để khô đợi khi mầm dài hai, ba phân. Vào lúc trời rạng thì gieo ra ruộng. Sau khi gieo, rắc một lớp tro cỏ thì không sinh sâu.

Lại: Phép đối với ruộng úng: Bùn sông, phân tro làm đầu. Khô vừng, đậu là thứ hai. Trước rắc đều trên ruộng, sau mới gieo mạ. Tiếp đó tùy thổ ngơi của từng nơi mà rắc các loại tro của ốc, ngao, hàu, sò. Không được dùng phân người và gia súc. Vì khi rắc phân người và gia súc xuống ruộng úng thì cỏ và lúa đều tốt, còn tro hàu thì cỏ chết mà lúa tốt, cho nên dùng.

TUÂN TỬ : Tùy ruộng cao thấp mà tính việc chăm bón. Chọn năm giống, sửa sang nông cụ, cất chứa cẩn thận, thuận thời mà làm khiến người nông phu chỉ dốc lực chứ ít phải lo nghĩ. Đó là công việc trị điền.

THẨM THỊ NÔNG THƯ : Công việc làm ruộng không vượt khỏi bốn chữ : nhiều phân, gắng sức.

BẮC SỬ - TRUYỆN VƯƠNG PHƯƠNG DỰC : Khi cày đôi dùng sức ít mà công hiệu nhiều.

TRIỆU NHÂN HÒA NÔNG THƯ : Phàm làm việc nghề nông phải biết lượng sức mà làm, không thể tham nhiều lấy được đến nỗi không đạt kết quả gì. Chuyện rằng : Ít thì được, nhiều thì lầm lẫn, huống hồ cấy gặt là việc khó khăn, sao lại không đoán trước được tiền tài và sức lực có đủ hay không. Ung dung không vội. Chắc chắn có hiệu quả mới làm. Thản hoặc tài sức không đủ thì tham nhiều vụ được, khó tránh khỏi cái lo thất bại, mười phần không được một hai. May mà thành công cũng không chắc chắn. Nếu suy sâu nghĩ chín, làm tốt lúc đầu lại làm tốt lúc giữa, cuối cùng ắt sẽ thành công và là phần thưởng đáng được.

SỬ KÝ – QUY SÁCH TRUYỆN : Cày đấy, bừa đấy. Bừa đấy làm cỏ đấy. Miệng được nếm. Mắt được trông thấy sự hoàn mỹ. Bản thân thu được lợi.

PHỦ ĐIỀN : Ruộng của ta đã thu hoạch là ngày vui của nhà nông.

Lại : Bèn cầu kho một ngàn. Bèn cầu cót một vạn. Chứa kê, cao lương, lúa, đậu – đấy là niềm vui của nhà nông.

TẢ TRUYỆN – HY CÔNG : Dân vui ruộng đồng ba vụ thành công.

PHẠT ĐÀN : Chẳng cấy chẳng gặt. Sao lại mua lúa ba trăm ngoài chợ.

CỐC LƯƠNG : Ruộng tư cấy không lợi thì chẳng phải là quan lại (quan lại là người quản lý ruộng đất, gây chuyện trở ngại để dân không làm việc được).

Ruộng công cấy không tốt thì chẳng phải là dân.

MẠNH TỬ - ĐẰNG VĂN CÔNG : Một trăm mẫu ruộng chẳng dễ làm minh lo là kẻ nông phu vậy.

TẬN TÂM : Người bị ốm, bỏ ruộng nhà mà làm cỏ ruộng người.

BẮC SỬ - TRUYỆN TÔ XƯỚC : Có ruộng trăm mẫu ắt phải mùa xuân đi cày, mùa hạ đi cấy, mùa thu đi gặt, thì mùa đông mới có cái mà ăn. Ba thời vụ trên là những tháng trọng yếu của nhà nông. Nếu một thời có sơ sót thì sẽ không có thóc mà ăn.

MẶC TỬ : Nhà nông sở dĩ sớm đi, muộn về, cày cấy không dám lười biếng, vì cho là cố gắng ắt giàu. Không cố gắng ắt nghèo. Cố gắng thì no, không có gắng thì đói vậy.

NÔNG CHÍNH TOÀN THƯ : Bậc thượng nông trị từ khi chưa có mầm mống (ý nói về cỏ). Đã có mầm mà không trị thì làm ruộng làm gì.

TẤN THƯ – TRUYỆN PHÓ HUYỀN : Người làm ruộng chỉ muốn gieo nhiều mà cày bừa không kỹ là phí công sức mà không có thu hoạch.

DẬT CHU THƯ : Nhà nông làm ruộng, chỉ cày mà không bừa, là làm đất cho cỏ. Đã thu mà không hoạch là lo thức ăn cho chim.

DIÊM THIẾT LUẬN : Người làm ruộng đồng gắng sức. Nếu bỏ công sức không đủ thì ruộng đất hoang. Dùng lực ít thì công một nửa.

ĐỀ TRANG VẼ ĐI BỪA Ở LA PHÙ SƠN – PHÉP BỪA RUỘNG SEN : Kỹ thì vất vả mà xây xước. Rối thì nhàn hạ nhưng không chín. Một ngày làm mười ngày nghỉ thì cỏ lác mọc đầy. Một người ở dưới cắt thì mười người ở trên ngăn cản. Gai góc mọc lại khó mà bừa tiếp. Duy có bậc lão nông làm việc một mình, xong việc một mình. Không quên chỉ, không quên bảo, không làm giúp. Chuyên tâm không trễ nãi. Lâu dần quen tay mà nhập tâm. Như kẻ đầu bếp tháo trâu. Như người nước Sính phạt mũi. Mắt trông, tay chỉ, chân giậm, ý kiến. Đều là giống lúa, giống mạ tốt. Chẳng còn giống cỏ mọc lẫn. Đâu phiền đến tay lão nông bừa diệt.

THẨM THỊ NÔNG THƯ : Cả năm lao động cần mẫn cũng là vạn bất đắc dĩ mới phải làm như vậy. Nhưng để cho con cháu biết được việc cày cấy là gian nan cũng là kế sách lâu dài của mỗi nhà. Người xưa có nói : «Suy đến cùng thì vạn nghề cũng không bằng nghề nông là như vậy ».

TRUYỆN VƯƠNG PHÙ : Nước trở thành một nước là nhờ có dân. Dân có thể làm dân được là nhờ có lương thực. Lương thực có đầy đủ là nhờ có công lao của dân. Dân có thể đóng góp công lao được là nhờ hàng ngày có sức. Bậc thánh nhân hiểu biết sâu sắc rằng sức là gốc của dân, nên của nước. Cho nên bớt lao dịch để dân hàng ngày có sức.

TRIỆU THẾ GIA : Việc cày cần gấp. Một ngày không làm trăm ngày không ăn.

TRUYỆN VƯƠNG PHÙ : Một người không cày, thiên hạ chịu đói.

CHỦNG HỌC TRAI KÝ (ghi chép về gây giống) : Làm ruộng ở nơi đồi núi, đất trũng vất vả mà thường nghèo. Làm ruộng ở nơi đồng bằng ẩm ướt thì nhàn hạ và thường giàu. Đó là do hạn chế về địa thế mà như vậy. Nhà nông giỏi thì có thể lấy sức mà khắc phục được. Kẻ lười biếng thì dẫu đất tốt cũng chẳng là nên chuyện gì. Những người làm ruộng giỏi trước thời vụ đã lo công việc. Dốc sức ra bồi bổ. Sớm làm mà tối chưa nghỉ, được việc mà càng gắng sức, cho trọn ba thời vụ, không quan tâm đến những việc khác. Cho nên đất tuy gầy mà thu hoạch lại dồi dào. Năm dẫu xấu mà không đói. Kẻ lười biếng thì không như vậy. Công việc thì làm sau mọi người. Chăm sóc thì không đúng thời vụ. Thích nghỉ, ưa nhàn. Thấy mọi người vất vả mà không suy nghĩ. Khi đến mùa thu hoạch thì mới vội vàng sửa chữa nông cụ. Đất không phải là không tốt, nhưng chẳng có sức người thì chẳng có gì mà trông cậy. Cho nên năm được mùa thường đói, năm mất mùa thì phiêu bạt. Đó là vì người vậy.

MẶC TỬ : Một người cày mà chín người đợi thì người đi cày không thể không khẩn cấp. Vì sao vậy ? Người ăn nhiều mà người đi cày lại ít vậy.

NAM SƠN NGHIÊN NÔNG TRUYỆN – THANH TÍCH SÁCH LỘ : Nghề nghiệp để nuôi sống dân có bốn : nhà nông là một. Không nói đến nông cụ của người làm ruộng vì theo tập tục người làm ruộng bao giờ cũng sắc bén nông cụ rồi mới đi làm. Cùn nhụt không có. Chọn ruộng mà cầy, đất xấu không nhận. Vì rằng sỏi đá không lợi cho việc cày cấy. Mai cuốc cũng không làm gì được. Vì thế dần dà mới có ruộng phì nhiêu. Những người làm ruộng không nghiên cứu về ruộng đất. Đã không biết nghiên cứu về ruộng đất thì thu hoạch sẽ thấp, công sức bỏ ra nhiều. Bỏ qua mọi kinh nghiệm. Nếu biết được thì có thể sáng suốt trong công việc. Nhìn thấy họ sạn tay, chai chân mệt mỏi với một mảnh ruộng thì còn biết nói gì nữa.

TRANG TỬ : Trang Tử nói rằng : « Xưa ta làm ruộng, cày cấy trên đất cỏ mặn, thì thu hoạch theo đất cỏ mặn. Cày bừa làm tơi tả cỏ thì thu hoạch theo cách cày diệt cỏ. Mấy năm gần đây ta cày sâu bừa kỹ, thóc lúa dư dật, quanh năm không nghĩ đến bữa tối ».

NÔNG CHÍNH TOÀN THƯ : Việc nhà nông chu đáo thì ăn uống đầy đủ, quần áo đẹp đẽ, nông cụ tinh xảo, của cải nhiều, mọi sự đều tốt đẹp.

THIỆN HÀNH – ĐƯỜNG THƯ –  TRUYỆN THÁI TỬ ANH : Lúc đó trồng mạch ở trong vườn, các vương đứng hầu. Đế nói : Lúc này để dâng lên tôn miếu cho nên phải thân làm. Trẫm cũng muốn các ông biết được sự khó nhọc của việc cày cấy.

TỔNG SỬ - THÁI TÔN KỶ : Thái tôn lệnh cho dân phải làm tốt ruộng đất, nắm vững phương pháp trồng cấy. Mỗi huyện bổ nhiệm một nông sư xúc tiến mọi công việc.

CHÂN TÔNG KỶ : Nhân Tông ngự giá đến xem nông trang thu hoạch lúa mạch, nghe nhà dân có tiếng dệt cửi. Ban cho người dệt trà lụa.

NGŨ HÀNH CHÍ : Hoàng Hựu năm thứ ba, huyện Bành Sơn dâng lên sơ đồ trồng lúa mạch để mừng. Mỗi cây có năm bông. Đế nói : « Trẫm thường cấm bốn phương không được dâng đồ mừng, nay Tây Xuyên dâng bức vẽ trồng mạch, hãy tặng cho họ lụa để khuyến khích ».

TRUYỆN ĐÀO CỐC : Chu Thế Tôn quan tâm đến việc cày cấy, sai thợ khắc lên gỗ bức vẽ người đi cày, người dệt cửi, người chăn tằm trang trí trong cung cấm để mở rộng việc khuyến khích và dạy bảo nghề nông.

KIM SỬ TUYÊN TÔNG KỶ : Thời Tuyên Tông có người xin cử quan lo việc khuyến nông. Đến mùa thu thì xem xét kết quả để định thưởng. Tể tướng nói :  « Dân trông cậy vào nghề nông để sống, chưa nói đến khuyến khích, trước hãy nên khoan sức dân đừng làm mất thời vụ của người ta mà thôi. Có cử quan chẳng qua cũng là để đốc thúc các châu, huyện, thực hiện nghiêm thời hạn của nông vụ cho từng khoảnh ruộng. Thế là cản trở việc nông chứ không phải là khuyến nông ». Trên cho là phải.

NGUYÊN SỬ LOẠI BIÊN – NGUYÊN THẾ TỔ KỶ : Thế tổ sai Trung thu xem xét tập hợp những việc nông tang, định ra các điều mục. Lệnh cho Án sát cùng các quan châu, huyện tùy theo phong thổ mà ban hành.

NHÂN TÔN THIÊN VƯƠNG : Quan Đại tư nông soạn ra sơ đồ giảng giải về cách trông dâu. Đế nói rằng : « Nông tang là gốc của việc ăn mặc. Sơ đồ này soạn tốt ». Sai đem in phát trong dân gian.

MINH SỬ - THÁI TỔ KỶ: Thái tổ  sai bộ Hộ ra lệnh cho mỗi thôn đặt một cái trống. Vào dịp thời vụ nông tang, thì buổi sang đánh trống ra đồng. Kẻ lười biếng thì  bô lão trong làng phải đốc thúc. Nếu không đốc thúc sẽ bị trách phạt.

THẾ TÔN KỶ: Tháng chín vua ngự  ở đình Hàm Phong, triệu Đại học sĩ Địch Long dụ rằng: “Nay đang vào mua thu, muốn cùng các khanh đi xem việc thu hoạch. Công việc vất vả của nhà nông chỉ xem trên giấy không bằng nhìn thấy tận mắt. Đức thánh tổ ta đã từng dạy rằng: “Mặc lụa nên nhớ đến sự vất vả của người đàn bà dệt cửi. Ăn gạo nên nhớ đến nỗi gian khổ của người làm ruộng”. Xem thế đúng là  một sợi, một hạt đều có vị đắng cả.

TUYÊN TÔN KỶ: Thời Tuyên Tôn, bộ Lễ  dâng lên khuôn phép của lễ Tịch điền. Bên trên xem xong bảo thị thần rằng: “Tiên vương đặt ra lễ  Tịch điền hướng dẫn thiên hạ trong nghề nông. Thiên tử công khanh cùng cầm cày cuốc. Quý ở chỗ thức long chăm lo cho nghề nông. Không như vậy thì ba lần đầy, năm lần đẩy phỏng có ích gì cho công việc. (Trên đấy nói sự quan tâm đến nghề nông của bấc vua chúa).

THI – THIÊN CHU TỤNG: “Khên thay Bảo giới (chức quan coi việc nông). Chỉ chuộng mùa xuân. Còn mong gì khác. Ngoài ruộng ba năm. Khiến ta, người dân. Cùng lo cầm liềm. Đến xem gặt hái”. Đó là  bài Từ răn các quan coi việc nông.

TIỂU NHÃ: Ta gieo cao lương. Loại kê  xanh tốt. Loại mạch cũng mượt.

PHỦ ĐIỀN: Ta thăm ruộng phía nam. Hoặc làm cỏ, hoặc vun gốc. Lúa tốt bời bời. Như người đẹp đang nghỉ ngơi. Quan trên sung túc (ý nói công khanh có lộc điền, bỏ sức vào việc nông).

TẤN THƯ – TRUYỆN PHÓ HUYỀN: Ông Vũ, ông Tắc đi cày phúc để lại cho đời sau. Ông Y Doãn là bậc thánh thần đời xưa, đi cày ở đất Hữu Sằn. Án Anh làm đại phu nước Tề. Các bậc hiền thần, kẻ sĩ tuấn kiệt  đều theo làm nghề nông.

TỀ THƯ – CHUYỆN VƯƠNG KHIÊN: Vương Khiên trải làm Tư đồ Chưởng sử, không lo sản nghiệp. Nhà có tám chục mẫu ruộng cũ  để cho con và bạn bè cày cấy.

TIỀN HÁN THƯ – TRUYỆN TRIỆU DOÃN QUỐC: Tuyên đế Thần tước, năm đầu, sai Tướng quân Triệu Doãn Quốc rút quân đi đánh Tiên Linh. Doãn Quốc bèn giữ quân lại đồn điền. Đất tốt nên thu hoạch lớn. Năm sau phá được Tiên  Linh.

HẬU HÁN THƯ – TRUYỆN TRƯƠNG KHAM: Kham làm Thái thú ở Ngư Dương khai khẩn  đất hoang đến tám chục khoảnh. Khuyến khích dân cày cấy trồng trọt trở nên giàu có. Trăm họ hát ca ngợi rằng: “Dân không thêm cành. Mạch xanh hai núi. Trương quân dạy bảo. Niềm vui khôn xiết”.

HẬU HÁN THƯ – TRUYỆN TRƯ CÁT LƯỢNG: Trư Cát Lượng ra quân ở Vị Nam. Cho rằng lương ít khó bề khai triển, chia quân ra đồn trú ở Ngũ Trượng Nguyên. Làm ruộng lẫn với dân ở Vị Tân. Mọi người đều yên việc.

TẤN THƯ – TRUYỆN DƯƠNG HỰU: Dương Hựu trấn thủ Tương Dương, chia quân ra để làm ruộng. Thu hoạch rất lớn. Khi Hựu mới đến quân không có  một trăm ngày lương. Sau một vụ đã có mười năm lương.

TRUYỆN ĐỖ NGUYÊN KHẢI: Đỗ Nguyên Khải ở Kinh Châu, dẫn nước vào ruộng đến hơn một vạn khoảnh. Phân chia ranh giới, lấy đá để ngăn các khoảnh ruộng. Công tư đều có lợi. Dân chúng được nhờ cậy, gọi ông là cha Đỗ.

KINH TẾ LOẠI BIÊN: Quách Nguyên Chấn làm Lương Châu đô đốc, lệnh cho Thứ sử  Lý Hán Thông mở đồn điền tận dụng cái lợi về thủy bộ. Lương Châu cũ giá một đấu thóc đến vài nghìn tiền. Sauk hi đất đai được khai khẩn, quân lương đầy đủ, đủ dung mười năm, ngoài  đường không nhặt của rơi.

THỰC HÓA CHÍ: Trong năm Gia Hựu, Triệu Thượng Khoan làm Đường thủ, đất rộng, có thể  mở mang, dân hiếm, có thể chiêu mộ. Khuyến khích những người lao động đến. Người dân phiêu bạt nay lại trở về. Dẫn nước vào ruộng đến vài vạn khoảnh. Anh tôn khen là chuyện cần, thăng quan một trật, cho tiền hai mươi vạn để dung. (Trên đây nói về nhà sĩ hoạn chuyên cần việc nông).

THI – THẤT NGUYỆT (tháng bảy): “Ngày tam dương sửa soạn nông cụ. Những ngày tứ dương xuống đồng cày bừa. Vợ con cùng ta đi làm. Mang cơm cho ta ở cánh đồng phía nam. Quan lớn khuyến nông rất mừng”. Ý nói người Hàm trị điền sớm, dung sức đều nhau, cho nên quan khuyến nông lấy làm mừng.

Lại: “Tháng chín xây kho tang. Tháng mười chứa thóc lúa. Sáng kiếm cỏ tranh, tối đến tìm thừng. Vội lên mái nhà, rồi gieo bách cốc”. Ở  đây ý nối người đất Hàm rất biết lo việc, chuyên cần, suốt đời vất vả với nghề nông.

ĐẠI ĐIỀN: Ruộng lớn thì cấy nhiều. Đã cấy đã chăm bón, đầy đủ mọi việc, sửa sang nông cụ, bắt đầu công việc ở ruộng phía nam. Ở đây ý nói người nông dân hết sức với ruộng đất để báo đáp ơn trên.

HẬU HÁN THƯ – TRUYỆN BÀNG THỐNG: Bàng Thống ở nhà, hàng ngày đi cày ở  Lũng Thượng, làm cỏ ở phía trước. Lưu Biểu  đi qua hỏi rằng: “Tiên sinh gắn bó với đồng ruộng không chịu nhận quan lộc, ngày sau lấy gì để lại cho con cháu”. Bàng công nói: “Người đời thường để lại sự nguy hiểm cho con cháu, nay tôi để lại cho chúng sự yên ổn. Tuy cách để lại không giống nhau, nhưng không thể nói là không để lại.”

QUY KHỨ LAI TỪ - TẤN –  ĐÀO TIỀM: Nhà nông báo với ta để kịp mùa xuân, phải lo lắng công việc ở ruộng đồng.

NAM SỬ - TRUYỆN CHU THIẾT VŨ: Thiết Vũ tính ham việc trồng cấy, rất chăm công việc  đồng áng, đắp bờ khơi nước cũng giỏi, sớm hôm lo lắng. Đến bậc lão nông cũng không kịp. (Trên đây nói về người làm ruộng chuyên cần trong nhà sĩ thứ dân).

THƠ – KHÍ CỤ NHÀ NÔNG – TỐNG – MAI NGHIÊU THẦN.

Các bậc thánh hiền xưa thông hiểu sự  vật

Thuận theo công việc làm ra lương thực

Cấy gặt khuyên dân chuyên cần

Khẩn hoang trên khắp vùng

Chăm việc như thần nông

Kịp thời như Hậu Tắc

Ta già lui về vườn

Nông cụ lo chăm sóc

NÔNG XÁ: Đóng cửa như thế  là trái với đời. Chẳng muốn người đời cười là mình vụng dại. Bờ xa người dắt một con nghé  đi qua. Dưới trăng một chiếc thuyền nhỏ chở  trâu về. 

  Gửi cho bạn   Bản in
Tin mới hơn
Đồng hành cùng với ngành sản xuất dược liệu sạch (02/ 03/ 2017)
Vai trò của Phytohormones tới canh tác nông nghiệp (29/ 01/ 2015)
Vai trò của vi lượng với cây trông. (29/ 11/ 2014)
VAI TRÒ CỦA AXÍT AMIN TỚI CANH TÁC NÔNG NGHIỆP (29/ 11/ 2014)
Tăng cường khả năng miễn dịch của cây trồng (18/ 11/ 2013)
Các tin khác
Sinh học phân tử - chất dinh dưỡng hữu cơ - nông nghiệp bền vững - mối quan hệ hữu cơ (24/ 07/ 2012)
Bài báo đăng trong tạp chí “Thông tin Khuyến nông Hải Phòng” số 1 và 2 năm 2012 (28/ 01/ 2012)
Báo cáo tại Hội nghị Hóa học toàn quốc lần thứ V (18/ 11/ 2010)
Báo cáo hội thảo phân bón (05/ 10/ 2009)
Giải pháp sản xuất nông nghiệp bền vững (05/ 10/ 2009)
Xem tiếp >>
Đầu trang