Trang chủ

Giới thiệu

Ý kiến khách hàng

Sản phẩm

Liên hệ

Thông tin hoạt động
Giấy phép Pháp lý
Dinh dưỡng
Gardening guides
Hỏi và đáp
Tìm kiếm
Văn bản
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Giấy phép được phép lưu hành toàn quốc của Bộ Nông nghiệp
Công văn của Cục Trồng trọt, Bộ NN và PTNT ngày gửi các Sở NN & PTNT..
Mô hình tham quan
Khu vực sản xuất lúa sử dụng Ước mơ nhà nông dạng rắn tại xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam ĐỊnh
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Mô hình Cà chua
Mô hình Hòa lạc
Số lượt truy cập : 613849
Số người trực tuyến : 60
 
 

Báo cáo hội thảo phân bón

SỬ DỤNG PHÂN BÓN LÁ ĐỂ TĂNG NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG
VÀ CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN

Báo cáo trình bày tại Hội nghị Hóa Vô cơ - Phân bón lần III, 2008

TS. Đặng Xuân Toàn

 

Giới thiệu chung

Từ những năm 1960 đến nay, nông nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới. Cùng với sự tăng trưởng vượt bậc đó, phân bón vô cơ được sử dụng nhiều hơn và do sử dụng nhiều phân bón vô cơ nên đất đai đã bị bạc màu một cách đáng kể, sâu bệnh nhiều hơn, môi trường nước bị ô nhiễm nhiều hơn và hiện nay rất khó đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng cao về chất lượng nông sản.

Từ lâu, khoa học đã chứng minh được rằng, ngoài rễ, cây trồng còn có thể hấp thụ chất dinh dưỡng qua lá, thân và cành với tốc độ khá lớn, hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng tăng một cách đáng kể, tiếp đó những phát hiện ra các axít amin trong cây trồng, vai trò của axít amin trong sự phát triển của cây trồng và công nghệ phân giải protein trong động vật, thực vật thành các chất dinh dưỡng dưới dạng các axít amin đã mở ra một hướng đi nữa nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng. Chỉ trong một thời gian ngắn, các sản phẩm phân bón hữu cơ có hàm lượng ni tơ, ka li, phốt pho, vi lượng rất nhỏ đã được phổ biến rộng rãi trong các nước nông nghiệp phát triển. Các sản phẩm mới này đã trở thành công cụ số 1 để các nhà nông sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn rất nhiều so với trước kia.

Trong xu hướng phát triển mới, nền nông nghiệp dựa chủ yếu bằng phân bón vô cơ sẽ được thay thế dần bằng nền nông nghiệp bền vững, ở đó phân bón được sử dụng có hiệu quả hơn nhiều, không để các chất dinh dưỡng dư thừa gây lãng phí và gây ô nhiễm môi trường, sử dụng phân bón hữu cơ, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật độc hại tới môi trường và con người, tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Xu hướng phát triển này đã trở thành yêu cầu và động lực cho sự phát triển các loại phân bón, thuốc BVTV, chất tăng trưởng hữu cơ cũng như các phương pháp sử dụng phân bón mới có hiệu quả.

            Mới đây Tổng Giám đốc của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO) đã chính thức kêu gọi thực hiện cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp lần thứ hai. Cuộc cách mạng xanh lần thứ nhất vào những năm 1950 – 1960 với sự sử dụng sức mạnh của khoa học vào nông nghiệp đã tăng sản lượng nông nghiệp lên gấp đôi, nhưng lại sử dụng hoang phí nước, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Nhiều vùng trên thế giới đã bị cạn kiệt nguồn tài nguyên và môi trường bị đe dọa nghiêm trọng. Hiện tại không những cần phải tăng sản lượng nông nghiệp mà còn phải bảo vệ môi trường. Để đạt được mục tiêu này, rõ ràng phải có những loại phân bón hữu cơ mới, thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ mới và công nghệ canh tác, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tiên tiến để giảm chi phí và giảm chất gây ô nhiễm vào môi trường.

Các thành tựu khoa học làm cơ sở cho sự phát triển phân bón mới

            Lịch sử phát triển

            Vào giữa những năm 1950 các nhà khoa học tại trường Đại học Michigan Mỹ đã báo cáo trước Tiểu Ban Năng Lượng Nguyên tử của Quốc hội Mỹ về việc cây trồng có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng qua lá với tốc độ khác nhau và theo tất cả các hướng. Việc sử dụng phân bón phun qua lá, mặc dù với lượng phân bón rất nhỏ nhưng có tác dụng làm tăng quá trình phát triển của cây, giảm được lượng phân bón vào đất và còn có khả năng tăng chất lượng sản phẩm. Sau đó, các nghiên cứu tại nhiều nơi trên thế giới đã chỉ ra rằng phun qua lá tăng hiệu quả hơn bón qua gốc từ 8 - 10 lần và có thể cung cấp vi lượng qua lá như phun kẽm, sắt, manhê, phốt pho, và hiệu quả của nó có thể lên tới 20:1.

            Năm 1968, các nhà làm vườn ý đã là người đầu tiên trên thế giới sử dụng
a xít amin trong nông nghiệp. Sau đó đã ra đời sản phẩm thương mại và từ đó đến nay rất nhiều sản phẩm dinh dưỡng cho cây trồng dựa trên nền axít amin đã được nghiên cứu, phát triển và phổ biến rộng rãi. Các sản phẩm này được bán ra với những tên gọi là phân bón hữu cơ tự nhiên, phân bón lá hữu cơ hoặc chất điều hoà sinh trưởng vì các nghiên cứu phát hiện ra rằng các axít amin có khả năng điều hoà quá trình sinh trưởng của cây trồng.Từ những phát hiện đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện và đã phát hiện ra rằng cây trồng cần 20 loại axít amin đề tổng hợp lên protein và trong cây trồng có tới 300 loại axít amin có những vai trò khác nhau hình thành năng suất và chất lượng nông sản.

Người ta cũng đã phát hiện ra loại axít amin có vai trò chính trong quá trình tổng hợp protein, khả năng chịu đựng biến đổi của thời tiết và bệnh tật, quá trình tổng hợp quang, độ mở của khí khổng, quá trình thụ phấn và hình thành quả và nhiều quá trình quan trọng khác để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đồng đều và năng suất cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tốc độ hấp thụ và vận chuyển của axít amin trong cây trồng cũng đã được công bố.

Hiện nay Mỹ là nước đi đầu trong việc phát triển và sử dụng phân bón mà chất dinh dưỡng được sản xuất bằng phương pháp lên men, phương pháp thủy phân enzyme chất hữu cơ như cá biển, rong biển, da động vật thải, khô dầu đậu tương... Phương pháp sử dụng chủ yếu là phun qua lá và đã đạt được rất nhiều kết quả. Những kết quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp đã tạo ra cuộc chạy đua toàn cầu về chất lượng nông sản và các nước có khả năng kiểm soát chất lượng nông sản là có lợi, còn lại bị thiệt hại.

Do sử dụng phân bón phun qua lá và phân bón có nguồn gốc hữu cơ dạng lỏng cho nên đã làm tăng đáng kể sản lượng và chất lượng nông sản đồng thời với việc giảm rất đáng kể phân bón truyền thống và thuốc BVTV độc hại, khó phân hủy.

Về sử dụng các biện pháp phòng ngừa và diệt sâu bệnh cho nhiều loại cây trồng bằng các sản phẩm tự nhiên như dầu đậu tương, ớt, tỏi gừng, xoan ấn độ đã có nhiều nghiên cứu và đã có nhiều sản phẩm thương mại. Hiện nay PAN Germany (Pesticides Action Network – có thể tìm trên mạng internet) đã công bố rất nhiều hướng dẫn chi tiết, có thể sử dụng làm cơ sở quan trọng để thử và từ đó rút ra kinh nghiệm.

 Thành tựu khoa học

 1.      Tốc độ hấp thụ của các chất dinh dưỡng khi phun qua lá

Các công trình nghiên cứu cũng đã xác định được tốc độ hấp thụ của các chất dinh dưỡng khác nhau, bảng 1 cho một số tốc độ hấp thụ của chất dinh dưỡng khi được phun qua lá trong cây trồng.

Bảng 1. Tốc độ hấp thụ chất dinh dưỡng khi phun qua lá.

 Chất dinh dưỡng

Thời gian để hấp thụ 50%

Nitơ (sử dụng ure)

1/2 - 2 h

Phốt pho

5 - 10 ngày

Kali

10 - 24 h

Can xi

10 - 24 h

Ma nhê

10 - 24 h

Lưu huỳnh

5 - 10 ngày

Clo

1 - 4 ngày

Sắt

10 - 20 ngày

Kẽm

1- 2 ngày

Molibden

10 - 20 ngày

            Nguồn: Trường Đại học Michigan, Mỹ

Từ bảng 1 có thể thấy rằng nitơ (trong thí nghiệm là từ urê) được hấp thụ, di chuyển và chuyển hóa nhanh hơn cả.

 

2.      Nhu cầu dinh dưỡng của cây bậc cao

            Thực vật được hình thành từ các thành phần khác nhau với những tỉ lệ được cho trong bảng 2. Nhiều loại phân bón trên thị trường đã được chế tạo theo tỉ lệ cơ sở này:

Bảng 2. Hàm lượng các thành phần trong thực vật bậc cao (tính theo thành phần khô):

 Thành phần

Hàm lượng (%)

Hyđrô

6

Các bon

45

Ô xi

45

Nitơ

1,5

Kali

1,0

Can xi

0,5

Manhê

0,2

Phốt pho

0,2

Lưu huỳnh

0,1

Clo

0,01

Bo

0,002

Sắt

0,01

Mangan

0,005

Kẽm

0,002

Đồng

0,0006

Molybden

0,00001 

 

 3. Tốc độ hấp thụ axít amin khi phun qua lá:

 Cây trồng tạo ra khoảng 300 loại axít amin, nhưng chỉ 20 loại được dùng đến để sản xuất ra protein ( như cysteine, methionine, proline, leucine, histidine, arginine, threonine, lysine, serine, glycine, glutamine, glutamate, aspartic acid, asparagine, alaine, tryptophan, valine, phenylalanine). Cây trồng có khả năng tự tổng hợp axít amin, nhưng các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng như N, P, K và các vi lượng khoáng chất không tạo ra được axít amin. Do vậy, nếu như có thể cung cấp trực tiếp các axít amin cho cây trồng sẽ hết sức tốt. Hiện nay nguồn cung cấp axít amin cho cây trồng có thể từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu từ quá trình thuỷ phân protein. Các chất giầu protein thường đi từ nguồn động vật và thực vật. Protein được phân huỷ thành axít amin bằng các phương pháp thuỷ phân khác nhau ví dụ như thuỷ phân bằng hoá học, bằng enzyme...

Tốc độ hấp thụ của một số a xít amin cũng đã được nghiên cứu từ năm 1998, và người ta đã thấy rằng tốc độ hấp thụ của axít amin nhỏ hơn so với nitơ (urê) và Glycine có tốc độ hấp thụ cao nhất, kế đó là Alanine. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng a xít amin có khối lượng phân tử càng lớn thì có tốc độ hấp thụ càng nhỏ.

Tốc độ hấp thụ cũng chỉ là 1 yếu tố của hiệu quả quá trình phun qua lá. Hiệu quả còn khác nhau theo loại chất dinh dưỡng, ví dụ, 1 kg Nitơ cung cấp qua lá tương đương bằng 4 kg Nitơ cung cấp qua đất, nhưng 1 kg Manhê cung cấp qua lá lại tương đương với 75 kg Manhê cung cấp qua đất. 

 Hiệu quả sử dụng phân bón lá còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:

·                      Thời gian lưu của chất dinh dưỡng trên lá

·                      Chênh lệch nồng độ chất dinh dưỡng trong dung dịch và trong lá.

·                      Tổng diện tích lá được phun 

·                      Khả năng hoà tan của chất dinh dưỡng

 4. Vai trò của các a xít amin khác nhau tới sự phát triển của cây trồng:

Alaline: Làm tăng quá trình tổng hợp chất diệp lục, chất màu xanh; điều chỉnh quá trình đóng mở khí khổng và tăng sức chịu dựng với hạn hán.

            Arginine: làm tăng quá trình phát triển rễ, quá trình tổng hợp polyamin và tăng khả năng chống chịu với ảnh hưởng của độ mặn.

Aspartic acid: Tăng quá trình phát triển rễ, quá trình tổng hợp protein và cung cấp nitơ cho cây trồng phát triển vào các giai đoạn cây trồng bị stress do thời tiết, sâu bệnh.

            Cysteine: Trong acid amin này có lưu huỳnh là thành phần giữ cho hoạt động của tế bào và hoạt động như chất chống ô xi hóa.

            Glutamic acid: tăng quá trình nảy mầm, quá trình tạo ra chất diệp lục và hoạt hóa cơ chế tự bảo vệ chống lại sâu bệnh của cây trồng.

            Glycine: là một chelat kim loại tự nhiên, tạo ra sự phát triển mới và giúp cho việc tổng hợp Gibberelline.

            Histidine: Điều chỉnh quá trình đóng mở khí khổng và cung cấp khung các bon cho các chất tiền thân của hoc môn sinh trưởng.

            Isoleucine và Leucine: Tăng quá trình chịu đựng stress do độ muối, tăng khả năng phát triển của phấn hoa và quá trình nảy mầm để sinh ra hạt.

            Lysine: tăng khả năng tổng hợp diệp lục, quá trình thụ phấn, tạo thành quả và tăng khả năng chịu đựng hạn hán.

           Methionine: tăng sự phát triển của rễ và điều chỉnh sự chuyển động của stomatal. Làm tăng quá trình thụ phấn.

            Phenylalanine: tăng qúa trình tạo ra các chất đề kháng và tạo ra lignhin.

            Proline : Trợ giúp trong việc tăng khả năng chịu hạn, nhiệt độ cao , cung cấp nitơ và tăng khả năng duy trì chất diệp lục trong thời kỳ cây bị stress.

            Serine: làm tăng quá trình thụ phấn, sức chịu đựng stress và tạo thành cá hợp chất humic.

            Threonine: làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và tăng quá trình mùn hóa.

            Tryptophan: là dẫn chất của au xin và làm tăng quá trình tổng hợp các chất thơm.

            Tyrosine: tăng khả năng chịu hạn và làm tăng thụ phấn.

            Valaline: làm tăng quá trình nảy mầm của hạt và chịu đựng stress.

            Cytokinin: nhóm chất kích thích sinh trưởng, có vai trò làm tăng quá trình phân nhánh tế bào, quá trình hình thành chất diệp lục, nó cũng tham gia vào quá trình phát triển của tế bào và nhiều quá trình khác. Nó được tổng hợp trong rễ cây.

            Auxin: thuộc nhóm chất kích thích sinh trưởng, điều chỉnh quá trình dãn dài tế bào (nếu có mặt của Gibberellin thì hiệu quả còn cao hơn), nếu có sự có mặt của Cytokinin nó sẽ điều chỉnh quá trình phân nhánh tế bào. làm tăng quá trình phát triển rễ mới và khởi động quá trình ra hoa và nhiềvai trò khác

            Gibberellin: thuộc nhóm chất kích thích sinh trưởng, có vai trò điều hòa quá trình dãn dài tế bào bằng cách phân nhánh và dãn dài tế bào, điều hòa quá trình ra hoa để kéo dài thời kỳ ra hoa, điều hòa quá trình tạo ra enzyme trong quá trình tạo mầm của hạt.

            Nồng độ 1 số chất dinh dưỡng trong một số sản phẩm thương mại

            Phân bón lỏng hữu cơ không những là nguồn cung cấp axít amin cho cây trồng nó còn cung cấp bổ xung các chất dinh dưỡng để đáp ứng yêu cầu cân bằng dinh dưỡng cho cây trồng theo từng thời kỳ sinh trưởng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu dinh dưỡng với những thời điểm thời tiết không thuận lợi mà còn được coi là chất điều hòa sinh trưởng do có chứa nhiều axít sinh trưởng và một số vi lượng rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng của cây. Do phân bón lỏng hữu cơ có nhiều loại axít amin trong đó có các axít amin là các chất tăng trưởng , vitamin, vi lượng nên còn được gọi là các chất điều hòa sinh trưởng.

 Bảng 3 Dưới đây cho nồng độ một số chất dinh dưỡng trong một số sản phẩm
phân bón lỏng hữu cơ đang được bán trên thị trường thế giới

  

Sản phẩm

Khối

lượng

riêng

Nồng độ ( % khi lưng)

N

P

K

S

Na

Maxicrop

1,08

0,14

0,02

3,4

0,5

0,7

Seasol

1,09

1,6

0,1

1,3

-

-

Kelpak

1,06

8,8

0,8

0,7

-

-

Response

1,23

10,3

3,9

5,2

0,3

0,07

Goemar

1,01

0,04

-

0,04

0,06

0,1

  

Các nguồn tài nguyên biển đã từ lâu được nông dân nhiều vùng trên thế giới ( trong đó có Việt Nam) sử dụng làm phân bón và chất cải tạo đất. Cá biển chứa rất nhiều protein, chứa tới 18 chất dinh dưỡng tương đối cân bằng cần thiết cho phát triển của cây trồng và còn chứa tới 60 loại khoáng chất khác nhau có tác dụng rất tốt cho sức khỏe cây trồng và sinh học đất. Rong biển còn chứa một số axit amin là các chất tăng trưởng cho cây trồng như Auxin, Gibberellin, Cytokinin và một số vitamin quan trọng như vitamin B12, C và E.

 Thịt và da động vật cũng chứa nhiều protein, khoáng chất và đặc biệt chứa với số lượng khá lớn các axít amin rất cần thiết cho cây trồng như Glycine và Proline.

 Một số kết quả sử dụng phân bón lỏng sản xuất từ các phế thải hữu cơ tự nhiên:

 Trong thời gian vừa qua, có 3 Viện nghiên cứu nông nghiệp đã thực hiện các nghiên cứu khảo nghiệm phân bón lá có nguồn gốc hữu cơ của Công ty cổ phần kỹ thuật môi trường ETC có tên là Ước mơ nhà nông (AgroDream). Các Viện đó là:

- Viện nghiên cứu rau quả, trên cây rau

- Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, trên cây chè

- Trung tâm nghiên cứu và phát triển lúa thuộc Viện nghiên cứu cây lương thực và cây thực phẩm, trên cây lúa.

Kết luận của các báo cáo khoa được cho như sau:

+ Cây rau.

            - Dạng phân bón AgroDream có tác dụng tốt trên các loại rau ăn lá và rau ăn quả. Trong hai loại phân thử nghiệm, Ước mơ nhà nông “M” (Agro Dream “M”) cho hiệu quả sử dụng phân bón tốt hơn dạng Ước mơ nhà nông “D”   (Agro Dream “D”).

- Sử dụng phân bón lá Agro Dream giúp cho cây trồng sinh trưởng tốt hơn, ra hoa đậu quả và chín sớm hơn từ 5-10 ngày.

- Sử dụng phân bón lá Agro Dream giúp cây giảm thiểu sâu bệnh hại, giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong quả và môi trường. Các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm đều đảm bảo an toàn.

- Sử dụng phân bón lá Agro Dream giúp cây nâng cao năng suất cây trồng từ 10-30%. Có thể keó dài thời gian bảo quản, đặc biệt quả cà chua từ 15-20 ngày. Chất lượng quả đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Mẫu mã rau quả bóng, đẹp. - Sử dụng phân bón lá Agro Dream cho nâng cao hiệu quả kinh tế lớn từ 10-30 triệu đồng/ha/vụ.

 

+ Cây chè.

- Sử dụng các chế phẩm Agro Dream đã làm tăng năng suất và chất lượng của cây chè. Năng suất đạt cao nhất khi sử dụng chế phẩm loại “M” với 16,11%, điều này cũng được thể hiện rõ khi khảo nghiệm chế phẩm loại “M trên diện rộng (tăng năng suất 14,68% và 17,64% giá trị).

- Khi sử dụng chế phẩm loại “D” cây chè ra nhiều búp hơn so với loại “M” và “C”. Mật độ búp hái/m2/lứa đạt 22,16%.

- Thông qua thử nếm chất lượng sản phẩm đánh giá, các sản phẩm đều đạt, sản phẩm chế biến của chế phẩm loại “D” có điểm thử nếm cao nhất (14,99).

- Việc sử dụng các chế phẩm Agro Dream không gây hại đến cây chè, có tác dụng góp phần làm giảm sự tấn công của sâu bệnh.

- Trong các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu thu hái sau khảo nghiệm không phát hiện thấy tồn dư hàm lượng NO3-, điều đó chứng tỏ sử dụng các chế phẩm Agro Dream vẫn đảm bảo an toàn sản phẩm.

- Sử dụng chế phẩm Agro Dream đã làm tăng thu nhập người làm chè 19,75%/năm/ha

- Trong 3 loại chế phẩm đem khảo nghiệm, chế phẩm “M” có nhiều ưu việt hơn về năng suất so với các chế phẩm còn lại nhưng chế phẩm loại “D” lại tác dụng đồng đều hơn cả về năng suất, chất lượng sản phẩm.

- Sử dụng ở diện rộng sản phẩm AGRO DREAM “D” làm tăng sản lượng 13,83%, phẩm cấp loại B tăng 22,44%. Giá trị sản phẩm của người sản xuất cho tăng > 17%. Đầu tư cho thuốc BVTv giảm so với đối chứng 19%.

 

+ Cây lúa.

            Kết quả khảo nghiệm phân bón Agro Dream “C” “D” “M”  trong thí nghiệm chính qui và khảo nghiệm trên diện rộng đối với giống lúa HYT 92, Khang dân đột biến, trong trà lúa mùa sớm 2007 tại Vĩnh Quỳnh Thanh Trì Hà Nội cho những kết luận sơ bộ sau:

- Phân bón lá Agrodream ảnh hưởng trực tiếp đến bộ máy quang hợp của lúa, lá lúa có màu xanh đậm và khoẻ, tuổi thọ của lá dài hơn so với đối chứng.

- Phân bón lá góp phần làm tăng tính chống đổ ở giai đoạn cuối của lúa.

- Phân bón lá đã góp phần làm tăng năng suất lúa từ 1,9 đến 8,7 tạ/ ha đặc biệt ở công thức phun phân bón lá M ở nền phân thấp cho bội thu năng suất cao nhất: 8,7 tạ và cho hiệu quả kinh tế cao nhất MBCR đạt 2.

 

Kết luận

            Phân bón lá là một loại phân bón được sản xuất dựa trên khả năng hấp thụ được các chất dinh dưỡng qua lá của cây trồng. Sử dụng kết hợp cả bón lá và bón gốc sẽ mang lại kết quả rất tốt, giảm được phân bón và tăng được chất lượng nông sản. Nếu như sử dụng phân bón lá hữu cơ thì lại cho kết quả tốt hơn nhiều.

Phân bón lá nói chung và phân bón lá có nguồn gốc hữu cơ tự nhiên sẽ có tương lai tươi sáng vì nó sẽ tiếp tục khẳng định vai trò không thể thiếu được trong sự phát triển nền nông nghiệp đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao và phải bảo vệ môi trường đất, môi trường nước thông qua giảm sử dụng các thành phần gây thoái hóa đất, ô nhiễm nguồn nước trong phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật khó phân hủy.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Congress of the United States, Research and Development Subcommitee of the Joint Committee on Atomic Energy. Foliar Feeding of Plant Nutrients.

2. S.H. Wittwer. Foliar Aplication of Fertilizer. Department of Horticulture, Michigan State University.

3. George Kuepper; Foliar Fertilization Current Topics. 2003. www.attra.ncat.org.

4. Z. Dhlamini; C. Spillane; J.P. Mos; J. Ruane; N. ủquia; A. Sonnio. Status of Research and Application of Crop Biotechnologies in Developing Countries. Food and Agriculture Organization of the United nations, Rome, 2005.

5. D.C. Edmeades. The effects of liquid fertilizers derived from natural products on crop, pasture, and animal production: a review. Aust. J. Agric. Res. 2002, 53, 965-976.

6. Vekleij.F.N; Seaweed extracts in agriculture and horticulture: a review. Biological agriculture and horticulture, 1992, 8, 309- 324.

7. Rustad, T. Utilization of Marine By- Products. Department of Biotechnology, Norwegian University of Science and Technology, Norway. Turid.rustad@biotech.ntnu.no.

8. S. Furuya, Y. Umemiya; The influence of Chemical. Forms on Foliar- Applied Nitrogen Absorption for Peach Trees. Proc. IS on foliar Nutrition. Eds. M. tagliavini et al. Acta Hort. 594, 2002.

9. www. Harrisranch.net. Harris ranch Napa Valley exclusively uses and sells Eco nutrients Fertilizers for all it farming needs.

10. www. Groworganic.com. Guidelines for Fertilizing organically

11. What is foliar fertilizer? Trong what is fertilizer.html.

12. www.saeweed.ucg.ie.html. Chemical Composition of Seaweed.

13. Th.S. Tô Thị Thu Hà, Th.S. Đặng Thị Hiệp, Lê Thị Tình, Lê Thị Thủy, Nguyễn Xuân Điệp, Phạm Văn Dựng. Nghiên cứu ứng dụng hiệu quả của phân bón lá AgroDream trên cây rau tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Viện nghiên cứu rau quả, 2007.

14. TS. Nguyễn Văn Toàn, CN. Vũ Ngọc , KS. Nguyễn Khắc Quý. Báo cáo kết quả khảo nghiệm phân bón hữu cơ lỏng qua lá AgroDream trên cây chè. Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2007.

15. TS.Nguyễn Duy Bảo, TS. Nguyễn Ngọc Ngân, TS. Phùng Bá Tạo, Đồng Thị Cúc, Trương Thị Phiên. Khảo nghiệm phân bón qua lá AgroDream – “ước mơ nhà nông C” “D” “M” trên lúa tại Thanh Trì, Hà Nội vụ mùa 2007. Trung tâm nghiên cứu và phát triển lúa RRDC- Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm.

 

 

  Gửi cho bạn   Bản in
Tin mới hơn
Đồng hành cùng với ngành sản xuất dược liệu sạch (02/ 03/ 2017)
Vai trò của Phytohormones tới canh tác nông nghiệp (29/ 01/ 2015)
Vai trò của vi lượng với cây trông. (29/ 11/ 2014)
VAI TRÒ CỦA AXÍT AMIN TỚI CANH TÁC NÔNG NGHIỆP (29/ 11/ 2014)
Tăng cường khả năng miễn dịch của cây trồng (18/ 11/ 2013)
Các tin khác
Giải pháp sản xuất nông nghiệp bền vững (05/ 10/ 2009)
Bài viết cho Tạp chí Khoa học Thanh Hóa (04/ 10/ 2009)
Đầu trang