Trang chủ

Giới thiệu

Ý kiến khách hàng

Sản phẩm

Liên hệ

Thông tin hoạt động
Giấy phép Pháp lý
Dinh dưỡng
Gardening guides
Hỏi và đáp
Tìm kiếm
Văn bản
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Giấy phép được phép lưu hành toàn quốc của Bộ Nông nghiệp
Công văn của Cục Trồng trọt, Bộ NN và PTNT ngày gửi các Sở NN & PTNT..
Mô hình tham quan
Khu vực sản xuất lúa sử dụng Ước mơ nhà nông dạng rắn tại xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam ĐỊnh
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Mô hình Cà chua
Mô hình Hòa lạc
Số lượt truy cập : 543077
Số người trực tuyến : 29
 
 

Kết quả khảo nghiệm trên một số loại rau năm 2010

Đoàn cán bộ Bộ Nông nghiệp tham quan mô hình

Sử dụng phân bón lá Ước mơ nhà nông “M” (Agrodream “M”) trên cây cà chua, dưa chuột và cải ngọt có hiệu quả rõ rệt về sinh trưởng và năng suất, đặc biệt là công thức bón phân dạng rắn, tưới và phun phân lỏng .

Phân bón lá Agrodream “M” làm giảm việc dùng phân bón hóa học từ 30-50%, đồng thời giảm tác động tới sức khỏe người tiêu dùng và môi trường

Sử dụng phân Ước mơ nhà nông dạng rắn kết hợp với tưới gốc thay thế cho việc bón phân chuồng đồng thời làm cho đất tơi xốp.

Khi phun phân Agrodream “M” cho một số loại rau làm tăng mẫu mã sản phẩm đồng thời làm tăng mức độ cảm quan

 

KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM

PHÂN BÓN AGRODREAM TRÊN RAU

Vụ xuân - hè 2010

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2008, tổng diện tích trồng rau của Việt Nam là 772 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 160 tạ/ha, sản lượng đạt trên 11 triệu tấn. Trong 6 tháng đầu năm 2009, cả nước sản xuất gần 500 nghìn ha rau, đậu các loại, trong đó miền Bắc đạt 240 nghìn ha; năng suất trung bình tương đương năm trước. So với năm 2005, diện tích trồng rau tăng 12,12%, năng suất tăng 6,07% và sản lượng rau tăng 18,82%. Bình quân rau sản xuất trên đầu người đạt 133,4 kg/người/năm, tương đương mức bình quân toàn thế giới và đạt loại cao trong khu vực. Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều vùng rau chuyên canh nông dân còn lạm dụng các chế phẩm hoá học dẫn tới chất lượng rau kém, ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng và gây ô nhiễm môi trường.

Cây cối không những hấp thụ chất dinh dưỡng qua rễ mà còn hấp thụ qua lá, trong khi diện tích lá của cây lại gấp hàng chục lần diện tích mà rễ cây ăn tới. Bón phân qua lá là cách cung cấp chất dinh dưỡng lên phần trên mặt đất của cây. Do bón phân qua lá là cách tốt nhất để nâng cao năng suất và sức sống của cây trồng nên gần đây, phương pháp này đang được sử dụng rộng rãi và được tiếp nhận như một phần cần thiết trong sản xuất cây trồng. Nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng, bón phân qua lá tăng năng suất từ 12-25% so với cách bón phân thông thường. Nghiên cứu ở nhiều loại cây trồng, nhiều điều kiện ngoại cảnh cho thấy :

- Với cùng một lượng dinh dưỡng nếu phun qua lá cây sẽ hấp thụ được 90%, trong khi bón qua đất cây chỉ hấp thụ được 10%, đặc biệt ở các vùng đất cát pha bón phân qua lá hiệu quả gấp 20 lần bón phân qua đất.

- Bón phân qua lá là phương pháp hiệu quả nhất để điều chỉnh sự thiếu hụt chất trong đất và giải quyết được vấn đề chuyển hóa dinh dưỡng trong điều kiện khô hạn
            Mục đích của việc bón phân qua lá không phải là để thay thế phân bón qua đất. Nhưng việc cung cấp dinh dưỡng qua lá là cách ngắn nhất làm chậm quá trình lão hóa tự nhiên sau giai đoạn sinh trưởng sinh thực, hạn chế sự suy giảm quang hợp và làm cân bằng sự tăng trưởng rễ để hút dinh dưỡng đưa đến hạt, củ, quả hoặc sinh trưởng dinh dưỡng. Hơn nữa, cung cấp dinh dưỡng qua lá có thể là 1 công cụ quản lý hiệu quả trong việc giúp cây trồng chống chịu với điều kiện bất thuận hoặc thiếu dinh dưỡng cục bộ tạm thời. Cung cấp dinh dưỡng qua lá vào giai đoạn đầu sẽ làm cho cây sinh trưởng khỏe hơn, góp phần tăng sức sinh trưởng và đưa đến tiềm năng đạt năng suất cao nhất và làm tăng đáng kể khả năng chống chịu với sâu bệnh, với các tác động xấu khác tới sự phát triển bình thường của cây trồng.

Dùng phân bón lá có nhiều ưu điểm:

- Chất dinh dưỡng được cung cấp cho cây nhanh hơn bón gốc

- Hiệu suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn

- Chi phí thấp hơn

- Ít ảnh hưởng đến môi trường và đất trồng

Theo số liệu đã được công bố ở một số nướ, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạt tới 95 %. Ở Philippin dùng phân bón lá cho tăng năng suất lúa 1,5 lần so với dùng phân bón gốc qua rễ và gấp 3,3 lần khi không bón phân. Khi dùng phân bón lá cây lúa khoẻ hơn, cứng cáp hơn, chịu được sâu bệnh, không làm chua đất như khi bón nhiều và liên tục phân bón hoá học vào đất. Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ tốn bằng 1/4 so với phân bón qua đất.

Ở nước ta, từ những năn 80, Viện Hoá học Công nghiệp đã tiến hành tách chiết axit humic từ than bùn để điều chế một số loại Humat dùng làm chất kích thích sinh trưởng phun cho cây trồng. Kết quả là đã được thị trường chấp nhận. Tuy nhiên, trình độ khoa học kỹ thuật ngày một cao, khách hàng yêu cầu bổ sung thêm các chất dinh đường đa vi lượng, chất lượng của sản phẩm đưa ra thị trường phải ngày một nâng cao. Nhu cầu đó hoàn toàn phù hợp với nhũng kết quả nghiên cứu của nhiều nước tiên tiến.

Người ta đã xác định thời kỳ cây lớn cần nhiều các nguyên tố Ca, K và N. Khi tạo hoa, trái, củ lại cần nhiều nguyên tố P, N, nguyên tố trung lượng và vi lượng. Những kết quả nghiên cứu tác dụng của humat đã cho thấy hiệu quả về cải tạo tính chất vật lý của đất, làm thay đổi tính chất hoá học của đất và hiệu quả sinh học-kích thích sinh trưởng cây trồng.

Công ty CP Kỹ thuật Môi trường (ETC) đã nghiên cứu và sản xuất phân bón lỏng bằng nguyên liệu hữu cơ sẵn có trong nước như cá biển, da động vật và tảo biển. Các loại phân bón này có tên AGRODREAM (ƯMNN) C, D và M. Việc sử dụng những loại phân hữu cơ này vừa góp phần giảm ngoại tệ nhập khẩu phân bón, đồng thời tạo được môi trường trong sạch. Các sản phẩm này đã được thử nghiệm trên lúa, ngô, chè, rau, hoa, cỏ và một số cây trồng khác cho kết quả tốt. Từ năm 2006 Bộ môn đã tiến hành thí nghiệm 3 loại phân bón trên đối với cây cà chua, ớt, bắp cải. Kết quả đánh giá trong 3 loại phân bón lỏng được thí nghiệm thì AGRODREAM M thích hợp nhất với các loại rau trên thể hiện nhiều ưu điểm như : tăng năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, tăng tính chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại, đối với cà chua còn cho thu hoạch sớm hơn, kéo dài thu hoạch v.v...

I. Mục tiêu nghiên cứu

- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn cho 3 cây cà chua, dưa chuột và rau cải ngọt sử dụng phân bón lỏng AgroDream M

- Sử dụng phân bón lỏng AgroDream M trong phát triển sản xuất cà chua, dưa chuột và rau cải ngọt an toàn tại địa phương .

II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian tiến hành: từ tháng 1 năm 2010 – tháng 6 năm 2010 (xuân – hè)

- Địa điểm thí nghiệm: Tại Cánh đồng thí nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu Rau Quả, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Tp Hà Nội

- Địa điểm mở rộng mô hình : tại xã Song Phương, Hoài Đức, Tp Hà Nội

2. Nội dung

- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất cây cà chua sử dụng phân bón lỏng AgroDream M

- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất cây dưa chuột sử dụng phân bón lỏng AgroDream M

- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất cây cải ngọt sử dụng phân bón lỏng AgroDream M

- Xây dựng mô hình sản xuất cà chua, dưa chuột và rau cải ngọt sử dụng phân bón lỏng AgroDream

a. Cây cà chua:

  Công  thức 1 (Đ/C):  Phân chuồng 30 tấn/ha + 150N : 90P : 150K.

  Công  thức 2: Phân chuồng 30 tấn/ha + 150N : 90P : 150K + phân bón lỏng Agrodream M (phun 10 ngày 1 lần với liều lượng 100ml trong 10 lít nước), phun ở các thời kỳ

- Lần 1: trước khi nhổ cấy 4-5 ngày

- Lần 2: khi xuất hiện chùm hoa thứ nhất

- Lần 3, 4, 5, 6: cách 10 ngày phun 1 lần cho đến trước khi kết thúc thu hoạch quả 30 ngày.

  Công  thức 3: Phân chuồng 30 tấn/ha + 90P + Phân bón lỏng AgroDream M (tưới gốc 1 tháng 1 lần với liều lượng 200ml phân bón trong 10 lít nước với tần suất  10 ngày 1 lần, phun lên lá giữa 2 lần tưới gốc với liều lượng 100ml trong 10 lít nước, (tưới gốc thì không phun phân bón lỏng), cho đến kết thúc thu hoạch quả 30 ngày.

Công  thức 4: Phân lót sử dụng 232kg phân AgroDream M rắn (27 lít phân bón lỏng AgroDream M , 55 kg cám gạo, 150 kg xỉ than) + tưới gốc (phân bón lỏng) theo chu kỳ 15 ngày/lần với liều lượng 200ml trong 10 lít nước, tưới sau khi tưới rãnh 4-5 ngày, tưới vào rãnh giữa 2 hàng/luống tính từ lúc cây bắt đầu có hoa cho đến trước khi kết thúc thu hoạch 30 ngày.

  Công  thức 5: Không sử dụng phân lót, tưới gốc phân bón lỏng AgroDream M theo chu kỳ 15 ngày 1 lần, bắt đầu tính từ lúc cây hồi xanh với liều lượng 200ml/10 lít nước.  

b. Cây dưa chuột:

  Công  thức 1 (Đ/C):  Phân chuồng 30 tấn/ha + 120N kg/ha; Phân lân: 90 kg/ha; Phân kali: 120 kg/ha.

  Công  thức 2: Phân chuồng 30 tấn/ha + 120N : 90P : 120K + phân bón lỏng AgroDream M (phun 10 ngày 1 lần với liều lượng 100ml trong 10 lít nước), phun ở các thời kỳ :

- Lần 1: Giai đoạn cây 4-5 lá (hoặc trước khi ra tua cuốn)

- Lần 2: khi xuất hiện hoa cái

- Lần 3, 4, 5, 6: các h 10 ngày phun 1 lần cho đến trước khi kết thúc thu hoạch quả ăn tươi 15 ngày.

  Công thức 3: Phân chuồng 30 tấn/ha + 90P + phân bón lỏng AgroDream M (tưới gốc 1 tháng 1 lần với liều lượng 200ml trong 10 lít nước + phun 15 ngày 1 lần (giữa 2 lần tưới gốc với liều lượng 100ml trong 10 lít nước), cho đến kết thúc thu hoạch quả 30 ngày.

  Công thức 4: Phân lót sử dụng 232 kg phân AgroDream M rắn  (27 lít phân bón lỏng AgroDream M , 55 kg cám gạo, 150 kg xỉ than) + tưới gốc (phân bón lỏng) theo chu kỳ 15 ngày/lần với liều lượng 200ml trong 10 lít nước, tưới sau khi tưới rãnh  4-5 ngày, tưới vào rãnh  giữa 2 hàng/luống tính từ lúc cây bắt đầu có hoa cho đến trước khi kết thúc thu hoạch 30 ngày.

  Công thức 5: Không sử dụng phân lót, tưới gốc phân bón lỏng AgroDream M theo chu kỳ 15 ngày 1 lần, bắt đầu tính từ lúc cây có  4-5  lá thật với liều lượng 200ml/10 lít nước.  

c. Cây cải ngọt :  gieo thẳng

  Công thức 1 (Đ/C):  Phân chuồng 20 tấn/ha + 70 Nkg/ha; Phân lân : 60kg/ha; Phân kali: 70 kg/ ha.

  Công thức 2: Phân chuồng 20 tấn/ha + 70N : 60 P : 70K + phân bón lỏng AgroDream M (phun 10 ngày 1 lần với liều lượng 100ml trong 10 lít nước), phun ở các  thời kỳ

- Lần 1: Giai đoạn cây 2-3 

- Lần 2, 3: khoảng cách 7 ngày/lần, kết thúc trước thu hoạch 5-7 ngày.

  Công thức 3: Phân chuồng 20 tấn/ha + 60P + phân bón lỏng AgroDream M (tưới gốc sau khi gieo 15 ngày với liều lượng 200ml trong 10 lít nước (tưới sau khi cây được 2-3  lá + phun 7 ngày 1 lần với liều lượng 100ml trong 10 lít nước,

-   Công thức 4: Phân lót sử dụng 232kg phân AgroDream M rắn (27 lít phân bón lỏng AgroDream M , 55 kg cám gạo, 150 kg xỉ than) + tưới gốc (phân bón lỏng) 7 ngày/lần với liều lượng 200ml trong 10 lit nước, kết thúc trước thu hoạch 5-7 ngày.

- Công thức 5: Không sử dụng phân lót, tưới gốc toàn bộ phân bón lỏng AgroDream M theo chu kỳ 7 ngày 1 lần, bắt đầu tính từ lúc cây có  2-3  lá thật với liều lượng 200ml/10 lít nước, kết thúc trước thu hoạch 5-7 ngày.

III. Phương pháp nghiên cứu

* Vật liệu:

Thí nghiệm được tiến hành trên các loại rau ăn lá và rau ăn quả:

            1) Rau ăn lá: Giống Cải xanh CX1 do Viện Nghiên cứu Rau Quả chọn tạo

            2) Rau ăn quả: Giống Cà chua Savior (giống lai F1 của Công ty Syngenta – Thụy Sĩ)  và Giống Dưa chuột DV1044 (giống lai F1 của công ty Đất Việt phân phối – do công ty Siminis sản xuất)

* Phương pháp nghiên cứu:

- Thí nghiệm so sánh các loại phân bón lá:

+ Diện tích thí nghiệm 1 cây là: 20 m2 x 5 CT x 3 lần nhắc = 300 m2.

+ Tổng diện tích: 1000 m2

- Các  thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại.

- Áp dụng quy trình kỹ thuật trồng trọt của Viện Nghiên cứu Rau Quả

- Chỉ tiêu theo dõi: thời gian sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất, tình hình sâu bệnh hại.

- Chỉ tiêu sinh hoá: chất khô, đường tổng số, vitamin C, dư lượng nitrate, diệp lục theo phương pháp TCVN 5366-91, TCVN 4594-88, TCVN 6427-2:1998, so màu, sắc ký ion

- Đánh giá sâu bệnh hại theo phương pháp của Viện Bảo vệ Thực vật

- Số liệu được xử lý bằng phương pháp đa biên độ của Duncan, theo chương trình IRRISTAT trên máy tính.

- Khảo nghiệm diện rộng: 1,7ha tại vùng trồng rau an toàn xã Song Phương, Hoài Đức.

 

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Thí nghiệm cây cà chua

* Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng

Thời gian sinh trưởng của cà chua được tính từ khi bắt đầu trồng đến khi kết thúc thu hoạch, thời gian sinh trưởng phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh, mùa vụ và điều kiện chăm sóc. Để có thể nâng cao hệ số sử dụng đất, bố trí thời vụ hợp lý cần phải có những biện pháp tác động để có thời gian sinh trưởng ngắn.

Thời gian từ trồng đến bắt đầu ra hoa: Số liệu bảng 1 cho thấy thời gian từ trồng đến khi ra hoa giữa các công thức dao dộng từ 1-5 ngày. Ở vụ xuân hè, do nhiệt độ trung bình cao hơn so với vụ thu đông, hầu hết cà chua đều có thời gian từ trồng đến ra hoa ngắn, trong các công thức thời gian này dao động từ 40-45 ngày, trong đó có công thức CT2 là ngắn nhất 40 ngày, sớm hơn so với Đ/C 3 ngày. Ra hoa muộn nhất là CT4 (45 ngày sau trồng), muộn hơn so với đối chứng 2 ngày.

Thời gian từ trồng đến bắt đầu chín: cà chua ở các công thức đều có thời gian từ trồng đến thu quả (độ chín sớm), dao động trong khoảng 80,6-86,3 ngày, ngắn nhất là CT2 (80,6 ngày sau trồng). Chín muộn nhất là ở CT4 (86,3 ngày sau trồng), dài hơn đối chứng CT1 6 ngày.

Thời gian từ trồng đến kết thúc thu: Thời gian từ trồng đến kết thúc thu của các công thức dao động trong khoảng 115,2-126,1 ngày. Công thức có thời gian từ trồng đến kết thúc thu ngắn nhất là CT2 (115,2 ngày sau trồng). Công thức có thời gian từ trồng đến kết thúc thu dài nhất là CT4 (126,1 ngày sau trồng), dài hơn so với đối chứng CT1 là 5 ngày.

Bảng 1: Ảnh hưởng của phân bón lá hữu cơ AgroDream M đến các giai đoạn sinh trưởng cây cà chua

Đơn vị: ngày

STT

Công thức

Thời gian từ.......

Trồng - ra hoa 50%

Trồng - quả chín

Trồng - kết thúc thu

1

CT1(đ/c)

43

83,1

121,7

2

CT2

40

80,6

115,2

3

CT3

42

83,5

120,5

4

CT4

45

86,3

126,1

5

CT5

42

83,6

123,3

 * Một số đặc điểm hình thái quả

Chỉ số hình dạng quả

Hình dạng quả là chỉ tiêu chất lượng quan trọng có ý nghĩa lớn đối với người tiêu dùng. Dựa vào hình dạng quả có thể đánh giá được độ chắc quả. Thường những giống có dạng quả thuôn dài có độ chắc quả cao hơn giống có dạng quả tròn hoặc dẹt.

Hình dạng quả được xác định thông chỉ số hình dạng quả. Dựa vào chỉ số hình dạng quả có thể chia thành 3 dạng quả

 

I = H/D

 

I: Chỉ tiêu hình dạng quả

I > 1,06: Dạng quả dài

H: Chiều cao quả

I = 0,8 - 1,06 Dạng quả tròn

D: Đường kính quả

I < 0,8: Dạng quả dẹt

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy: các công thức đều có dạng quả dài, có chỉ số hình dạng quả tương đương với đối chứng. Như vậy, phân bón Agrodream M không có tác động làm thay đổi hình dạng quả.

Bảng 2. Đặc điểm hình thái quả cà chua của các công thức thí nghiệm

STT

Công thức

Chiều cao
 (mm)

Đư­ờng kính
(mm)

Chỉ tiêu hình dạng quả

Độ dày
thịt quả (mm)

Độ Brix

1

CT1

54,33

59,27

0,917

8,18

3,73

2

CT2

55,60

60,87

0,913

8,47

3,79

3

CT3

55,67

61,60

0,904

8,33

3,76

4

CT4

57,20

63,47

0,901

8,68

3,77

5

CT5

57,47

62,00

0,927

8,21

3,75

6

LSD (5%)

2,47

3,21

 

0,39

0,11

7

CV(%)

2,3

2,8

 

2,5

1,5

 

Độ dày thịt quả

Độ dày thịt quả tạo nên độ chắc và chất lượng của quả cà chua.

Qua kết quả nghiên cứu bảng 2 cho thấy: độ dày thịt quả của các công thức dao động trong khoảng 8,18 - 8,68mm. Trong đó công thức có độ dày thịt quả cao nhất là CT4 (8,68mm), tiếp theo là CT2 (8,47mm), sai khác có ý nghĩa so với Đ/C (có độ dày thịt quả thấp nhất là 8,18mm). Như vậy, có thể thấy phân bón Agrodream M đã có tác dụng cải thiện chiều dày thịt quả cà chua.

Hàm lượng các chất hoà tan (Brix)

Độ Brix là chỉ tiêu để xác định hàm lượng các chất hoà tan trong dịch quả. Các công thức có độ Brix dao động trong khoảng 3,73-3,79, bón phân Agrodream M qua lá không có ảnh hưởng đến tỷ lệ chất khô hòa tan trong quả cà chua.

* Các yếu tố cấu thành năng suất của cà chua ở các công thức thí nghiệm

Tổng số quả trên cây

   Tổng số quả trên cây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tiềm năng năng suất. Số quả/cây phụ thuộc vào số chùm quả trên cây và tỷ lệ đậu quả.

            Kết quả nghiên cứu ở bảng 3 cho thấy: tổng số quả/cây của các công thức thí nghiệm dao động trong khoảng 12,94-16,81, trong đó công thức có số quả/cây thấp nhất là CT 5 (12,94 quả/cây). Công thức số quả/cây cao nhất là CT2 (16,81 quả/cây), sau đó đến CT4 với số quả/cây là 16,2 cao hơn so với đối chứng CT1 (14,33 quả/cây)

Bảng 3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cà chua ở  các công thức

C.thức

Tổng số
quả/cây

KLTB
quả (g)

N\suất cá thể
(kg/cây)

N\suất lý thuyết (tấn/ha)

N\suất thực thu (tấn/ha)

CT1

14,33

98,67

1,41

42,42

35,81

CT 2

16,81

97,33

1,64

49,10

36,50

CT 3

15,11

109,30

1,65

49,55

35,83

CT 4

16,20

121,30

1,97

58,96

37,36

CT 5

12,94

118,00

1,53

45,80

29,00

LSD(5%)

1,74

5,09

0,24

4,82

4,12

CV(%)

6,1

3,2

7,7

5,2

6,3

 Khối lượng trung bình quả

            Khối lượng trung bình quả là chỉ tiêu quan trọng để quyết định năng suất. Qua kết quả nghiên cứu ở bảng 3 cho thấy: Khối lượng trung bình quả dao động trong khoảng 97,33-121,30g. Trong đó công thức có KLTB quả cao nhất là CT4 (121,30g) cao hơn so với đối chứng CT1 (98,67g). Công thức có KLTB quả thấp nhất là CT2 là 97,33g.

Năng suất cá thể của các công thức

            Năng suất cá thể là chỉ tiêu rất quan trọng của người sản xuất. Năng suất cá thể không những phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống, mà còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc. Năng suất cá thể của các công thức dao dộng từ 1,41-1,97kg. Trong đó công thức có năng suất cá thể thấp nhất là đối chứng CT1 (1,41kg), công thức có năng suất cá thể cao nhất là CT4 (1,97kg), cao hơn đối chứng là 0,56kg ở mức có ý nghĩa. Như vây, các công thức có sử dụng phân bón Agrodream M có sự sai khác so với công thức đối chứng đã chứng tỏ có sự ảnh hưởng của phân bón này đến năng suất của cây cà chua đặc biệt là công thức 4 có sử dụng phân Agrodream M ở dạng rắn có sự sai khác rõ rệt.

Năng suất lý thuyết (NSLT): NSLT là khả năng cho năng suất cao nhất của một giống trong điều kiện tối ưu và cho thấy tiềm năng năng suất của một giống. Trên thực tế thì NSLT và năng suất thực thu cách xa nhau. Mục đích của các nhà sản xuất là rút ngắn khoảng cách giữa NSLT và năng suất thực thu bằng cách tác động các biện pháp kỹ thuật tốt nhất để đạt được NSTT cao nhất. Bảng 3 cho thấy NSLT của các công thức biến động rất lớn từ 42,42-58,96 tấn/ha. Công thức CT4 cho NSLT cao nhất (58,96tấn/ha), công thức CT1 đạt NSLT thấp nhất (42,42tấn/ha).

Năng suất thực thu (NSTT): Năng suất thực thu biến động rất lớn giữa các công thức, NSTT là kết quả cuối cùng của quá trình sinh trưởng, phát triển của cây và chịu tác động rất nhiều của yếu tố ngoại cảnh. NSTT của 5 công thức nghiên cứu dao động lớn từ 29,00tấn/ha – 37,36tấn/ha. Công thức CT4 có NSTT lớn nhất (37,36tấn/ha), công thức CT5 có NSTT thấp nhất (29,00tấn/ha). Giữa các công thức có sự sai khác không lớn. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các công thức có sự chênh lệch nhiều, nguyên nhân là do thí nghiệm được tiến hành trong vụ xuân hè nên ở giai đoạn thu hoạch gặp những trận mưa đầu mùa gây thối và nứt quả dần đến năng suất thực thu của các công thức giảm.

Bảng 4: Thành phần sinh hóa  của quả cây cà chua ở các công thức thí nghiệm

CT

Chất khô

(%)

Đường tổng số

(%)

Vitamin C (mg/100g)

NO3-

(mg/kg)

CT 1

4,39

2,41

3,95

56

CT 2

4,25

2,38

2,54

82

CT 3

4,79

2,26

2,54

70

CT 4

4,76

2,29

1,69

76

CT 5

4,72

2,28

2,67

190

 

Chất lượng quả cà chua giữa các công thức có sự khác nhau không nhiều về hàm lượng chất khô, đường tổng số và Nitrat.

STT

Ký hiệu mẫu

 

OM (%)

 

N (%)

Thành phần cơ giới (%)

2-0,002

0.02-0,002

< 0,002

1

CT 1

1,49

0,112

15,76

58,09

26,14

2

CT 2

1,38

0,106

16,85

56,67

26,48

3

CT 3

1,61

0,117

14,62

58,60

26,78

4

CT 4

1,32

0,106

20,05

57,22

22,72

5

CT 5

1,26

0,101

13,72

56,60

29,68

6

CT 6 (trước khi bón phân)

1,26

0,101

13,66

60,36

25,98

            Như vậy, khi bón phân Agrodream M vào đất không tăng độ mùn và hàm lượng đạm trong đất nhưng khi sử dụng phân Agrodream M ở dạng rắn đã làm thay đổi thành phần cơ giới đất tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt.

* Xác định hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một trong những yếu tố quan trong nhất để đánh giá điều kiện trồng trọt. Các công thức có năng suất khác nhau dẫn đến hiệu quả hiệu quả giữa các giống cũng khác nhau.

Bảng 5: Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón lá hữu cơ AgroDream M trên cây cà chua

STT

Công thức

N/suất (tấn/ha)

Giá bán (đồng)

Tổng thu (triệu đồng /ha)

Tổng chi

(triệu đồng /ha)

Lãi thuần (triệu đồng /ha)

1

CT1

35,81

5.000

179,00

107,39

71,61

2

CT2

36,50

5.000

182,50

108,39

74,11

3

CT3

35,83

5.000

179,20

100,29

78,91

4

CT4

37,36

5.000

186,80

98,79

88,01

5

CT5

29,00

5.000

145,00

97,49

47,51

Dựa vào số liệu thu thập được nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế các công thức. Chúng tôi tôi thấy việc sử dụng phân bón Agrodream M rất có hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là công thức có sử dụng phân Agrodream dạng rắn .

* Tình hình nhiễm sâu bnh hại

Các công thức tham gia thí nghiệm đều bị nhiễm sâu bệnh, mức độ nhiễm tuỳ thuộc vào từng công thức, từng loại bệnh.

+ Sâu đục quả (Helicoverpa armigera): Sâu đẻ trứng trên lá, khi nở sâu non phá hại lá, sau đó đục vào quả. Công thức CT3, CT4, CT5 có sử dụng phân bón lá nên tỷ lệ sâu dục quả giảm

+ Bệnh xoăn lá: Thường xuất hiện trong vụ cà chua sớm, vụ xuân hè. Do vi rút gây ra và môi giới truyền bệnh là bọ phấn. Bệnh phát triển phụ thuộc nhiều vào môi gới truền bệnh và khả năng chống chụi của giống. Qua theo dõi bệnh virus trong thí nghiệm, chúng tôi thấy mật độ bệnh xuất hiện không nhiều mặc dù mật độ bọ phấn tương đối nhiều đồng thời diều kiện thời tiết thuận lợi cho bệnh phát triển.

+ Bệnh sương mai (mốc sương) (Phytophthora infestans): Bệnh phát triển khi ẩm độ cao, nhiệt độ thấp, có thể hại trên lá, quả, thân. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh của các công thức xuất hiện không nhiều

+ Bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia Solanacearum): Bệnh thường xuất hiện khi ẩm độ cao, ấm đặc biệt vào vụ cà chua sớm. Do đó, trong các bệnh chúng tôi theo dõi thì bệnh héo xanh xuất hiện nhiều nhất và ở tất cả các công thức. Trong đó, công thức đối chứng 1 là nặng nhất (8.2%). Nguyên nhân là do cong thức 1 có sử dụng hàm lượng đạm nhiều hơn lam cho cây sinh trưởng phát triển mạnh tạo điều kiện cho bệnh héo xanh xâm nhập và phát triển trong cây.

Bảng 6:  Tình nhiễm sâu bnh hại chính trên cà chua của các công thức

STT

Công thức

Sương mai

(1-9điểm)

Virus

(%)

Héo xanh vi khun (%)

Sâu đục quả (%)

1

CT1

4,2

5,7

8,2

15,5

2

CT2

4,5

7,6

7,5

14,6

3

CT3

4,1

8,2

6,6

13,4

4

CT4

3,6

6,5

6,7

13,6

5

CT5

3,7

7,1

7,3

13,2

 

2. Thí nghiệm trên cây dưa chuột

Đối với dưa chuột chế độ bón phân có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, ra hoa đậu quả và năng suất của giống. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khi liều lượng phân bón tăng thì số quả/cây, tỷ lệ đậu quả, khối lượng quả và năng suất cũng tăng.

* Đặc điểm sinh trưởng của các công thức bón phân

Chiều dài thân chính

Chiều dài thân chính là chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh trưởng của các công thức. Chiều dài thân chính phụ thuộc vào bản chất của giống, điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật chăm sóc, chế độ dinh dưỡng. Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, dư thừa đạm thì cây sẽ vươn dài thân chính. Tuy nhiên, chiều dài thân chính còn quyết định đến số lượng lóng, đốt trên thân. Số lượng lóng đốt nhiều thì sẽ ra hoa nhiều hơn, số lá cũng tăng lên, khả năng sinh trưởng phát triển khoẻ.

Trong thí nghiệm các công thức có chiều dài thân chính dao động trong khoảng từ 225,80-250,80cm. Thấp nhất là CT5 225,80; cao nhất là công thức CT2 250,80cm. Khi chiều dài thân chính phát triển thì bộ lá cây lớn, khả năng quang hợp tốt, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, ra hoa và đậu quả.

 Số lá trên thân chính.

Số lá của cây có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển các bộ phận khác của cây như rễ, thân, cũng như sự hình thành năng suất sau này. Khi bộ lá phát triển cây quang hợp tốt giúp cho khả năng sinh trưởng khỏe. Nếu số lá trên cây nhiều khi có một số lá bị tổn thương cũng không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.

Các công thức tham gia trong thí nghiệm có số lá trên thân chính dao động từ 28,47-30,80 lá, nhiều nhất là công thức CT4, ít nhất là công thức CT5. Số lá trên cây cũng là yếu tố quan trọng để xác định chế độ bón phân thích hợp trong quá trình canh tác.

Bảng 7: Đặc điểm sinh trưởng phát triểncây dưa chuột  của các công thức bón phân

STT

Công thức

Số lá/thân chính

Chiều dàithân chính (cm)

Số nhánh/thân chính

1

CT1

28,47

248,93

2,15

2

CT2

29,73

250,80

2,00

3

CT3

30,27

245,87

2,17

4

CT4

30,80

246,87

3,00

5

CT5

28,80

225,80

2,17

6

LSD (5%)

4,99

35,34

0,13

7

CV (%)

8,9

7,7

3,1

 

 Số nhánh trên thân chính.

Khả năng phân nhánh của một giống cũng là đặc trưng riêng của giống, có giống phân nhánh mạnh nhưng cũng có giống phân nhánh kém hoặc đơn thân. Ngoài ra khả năng ra nhánh còn phụ thuộc vào điều kliện ngoại cảnh, biện pháp canh tác và chế độ chăm sóc và chế độ bón phân.

Bảng 8. Đặc điểm hình thái quả dưa chuột  của các công thức bón phân         

STT

Công thức

Chiều dài quả

(mm)

Đư­ờng kính quả (mm)

Độ dày
thịt quả (mm)

1

CT1

17,30

35,50

10,08

2

CT2

17,70

34,97

10,23

3

CT3

17,23

36,33

10,10

4

CT4

18,73

38,33

10,75

5

CT5

18,07

35,93

10,63

6

LSD (5%)

2,36

3,72

0,90

7

CV (%)

7,0

5,5

4,6

 

Độ dày thịt quả

Độ dày thịt quả tạo nên độ chắc và chất lượng của quả dưa chuột

Qua kết quả nghiên cứu bảng 8 cho thấy: độ dày thịt quả của các công thức dao động trong khoảng 8,18-8,68mm. Trong đó công thức có độ dày thịt quả cao nhất là CT4 (8,68mm), tiếp theo là CT2 (8,47mm). Công thức có độ dày thịt quả thấp nhất là CT1 (8,18mm).

 

* Các yếu tố cấu thành năng suất của các công thức dưa chuột vụ xuân hè 2010.

Tổng số quả trên cây

            Tổng số quả trên cây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất và khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh của các công thức. Số quả/cây phụ thuộc