Trang chủ

Giới thiệu

Ý kiến khách hàng

Sản phẩm

Liên hệ

Thông tin hoạt động
Giấy phép Pháp lý
Dinh dưỡng
Gardening guides
Hỏi và đáp
Tìm kiếm
Văn bản
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Giấy phép được phép lưu hành toàn quốc của Bộ Nông nghiệp
Công văn của Cục Trồng trọt, Bộ NN và PTNT ngày gửi các Sở NN & PTNT..
Mô hình tham quan
Khu vực sản xuất lúa sử dụng Ước mơ nhà nông dạng rắn tại xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam ĐỊnh
Mô hình Lúa tại Viện Cây lương thực - Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội
Mô hình Cà chua
Mô hình Hòa lạc
Số lượt truy cập : 579532
Số người trực tuyến : 71
 
 

Báo cáo tổng kết Dự án sản xuất thử nghiệm (KC.07.DA17/06-10)

Hoàn thiện công nghệ và thiết bị sản xuất phân bón lá từ các phế thải hữu cơ giàu protein bằng phương pháp enzyme – Các kết quả của dự án và khả năng ứng dụng sản phẩm phân bón của dự án trong phát triển bền vững ngành trồng trọt ở Việt Nam

(KC.07.DA17/06-10)

TS. Đặng Xuân Toàn

Công ty cổ phần Kỹ thuật  Môi trường, ETC, Hà Nội.

 

 

Trong những năm 50 của thế kỷ trước, Cách mạng xanh lần thứ nhất đã giúp thế giới trong đó có Việt Nam đưa năng suất cây trồng, đặc biệt là cây lương thực lên gấp nhiều lần, giúp thế giới vượt qua nạn đói và góp phần đáng kể trong đảm bảo an ninh lương thực. Nhưng những năm gần đây, cả thế giới và Việt Nam đều nhận thấy việc tăng năng suất, sản lượng nhờ phát triển giống mới, sử dụng nhiều phân bón và thuốc trừ sâu hóa học đã đến giới hạn, việc sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp một cách ồ ạt  đã làm suy thoái đất canh tác, môi trường bị ô nhiễm, chi phí cho sản xuất ngày càng tăng nhưng khả năng chống chọi với sâu bệnh, với sự biến đổi thời tiết của cây trồng không những không tăng mà còn bị giảm. Nguy cơ khủng hoảng toàn cầu về lương thực ngày càng rõ (năm 2008 đã có cuộc khủng hoảng về giá lương thực và năm nay - 2011 cuộc khủng hoảng mới về giá cũng đang rình rập). Nhu cầu về sự phát triển mới có tính đột phá để giải quyết vấn đề này đặt ra cho thế giới một thách thức mới: phát triển nhưng phải bảo vệ môi trường.

Các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học phân tử và sinh lý thực vật đã mở ra những khả năng mới kiểm soát các quá trình phát triển của cây trồng và tận dụng tối đa các tài nguyên thiên nhiên như ánh sáng mặt trời, ni tơ, các bon, ô xi trong không khí để tạo ra các thức ăn cho cây trồng ... Để đối phó với những thay đổi lớn và không báo trước của thiên nhiên (có thể gọi là biến đổi khí hậu), nhiều nước đã phải hoạch định chính sách riêng cho mình. Sau khi tham khảo và dựa trên kiến thức và kinh nghiệm có được, chúng tôi thấy rằng muốn phát triển bền vững, việc trồng trọt phải dựa trên nền tảng phát triển và bảo toàn hệ sinh thái mà cây trồng là một thành phần trong đó. Những biện pháp cụ thể có thể là : (1) tăng hiệu quả sử dụng phân bón nitơ và phốt pho, nhất là cho vùng bị mưa nhiều, ngập lụt, chú trọng tới vòng tuần hoàn N, P, S và C để các chất dinh dưỡng từ các nguồn tự nhiên đóng góp ngày càng nhiều vào chu trình tuần hoàn dinh dưỡng của cây; (2) tăng chất hữu cơ trong đất bằng cách bón phân hữu cơ và phát triển vi sinh vật trong đất để làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng với sự thay đổi thời tiết và tăng khả năng chống chịu với sâu, bệnh hại.

Việt Nam muốn phát triển nông nghiệp cũng không thể không tìm giải pháp phát triển bền vững cho mình. Hiện nay các công trình nghiên cứu có khả năng giúp Việt Nam xây dựng cơ sở khoa học để phát triển bền vững nông nghiệp khá nhiều và có thể tìm thấy dễ dàng qua hệ thống thông tin của Bộ Khoa học và Công nghệ cũng như của thế giới. Nhung những kết quả này chỉ có ý nghĩa (sử dụng được) nếu như Việt Nam phải có (nếu không có thì phải nhập khẩu) các công cụ, trong đó có các chất dinh dưỡng mới có khả năng tác động nhanh, trực tiếp tới các quá trình cơ bản của cây trồng (các quá trình sinh lý) và đúc kết kinh nghiệm từ khảo nghiệm, sử dụng trên cánh đồng.

Việc sản xuất ra loại phân bón lỏng từ các nguồn nguyên liệu là rong biển, cá biển, da động vật bằng phương pháp công nghệ sinh học hiện đại - thủy phân bằng enzyme  của Công ty cổ phần Kỹ thuật Môi trường được thực hiện trong dự án này sẽ là một công cụ quan trọng đóng góp cho sự phát triển bền vững của nông nghiệp Việt Nam.

I. MỤC TIÊU

I.1 Mục tiêu chung

          Hoàn thiện dây chuyền sản xuất thử nghiệm để xây dựng xây dựng các nhà máy sản xuất phân bón bằng phương pháp thủy phân enzyme.

          Sản phẩm phân bón lá đạt được các chỉ tiêu đã đăng ký, chất lượng ổn định.

I.2 Mục tiêu cụ thể:

- Hoàn thiện được công nghệ sản xuất phân bón lá từ phế thải hữu cơ.

 - Hoàn thiện hệ thống thiết bị sản xuất phân bón Agrodream theo công nghệ sản xuất đã lựa chọn.

- Xây dựng mô hình xưởng sản xuất phân bón lá công suất 3.000 tấn/ năm.

- Xây dựng mô hình ứng dụng Agrodream cho 1 số loại cây trồng như chè, hoa, rau.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN.

Sau hơn 1 năm thực hiện dự án, cho tới nay tất cả các nội dung dự án được thực hiện bao gồm :

Dây chuyền sản xuất thử nghiệm bao gồm chế biến nguyên liệu, thủy phân, lọc, pha chế, đóng chai sản phẩm đã được hoàn thành và đã được hoàn thiện theo quá trình chạy sản xuất thử nghiệm. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện công nghệ và thiết bị không dừng lại tại đây, nhưng đã đạt được các kết quả rất tốt. Nếu so với thiết kế ban đầu thì cho tới nay sự hoàn thiện đã được thực hiện ở hầu hết các khâu sản xuất.

Các chuyên đề về công nghệ và thiết bị: đã thực hiện tất cả các chuyên đề. Những nội dung cơ bản là hoàn thiện công nghệ sau khi dự án kết thúc đã mang lại kết quả rất tốt. Nhiều qui trình công nghệ đã được hoàn thiện và đã được thể hiện bằng các qui trình vận hành phù hợp. Một số chi phí không hợp lý đã được loại bỏ. Các thiết bị đã được hoàn thiện để tạo ra được thiết bị có kết cấu đơn giản hơn, dễ vận hành hơn và hiệu quả của từng thiết bị cũng như của từng cụm thiết bị cũng đã tăng lên nhiều.

Các tài liệu hướng dẫn: đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn vận hành hệ thống sản xuất, tài liệu hướng dẫn sử dụng phân bón, hướng dẫn chăm sóc một số loại rau, chè, hoa. Có thể nói rằng các hướng dẫn này đã giúp ích rất nhiều cho Công ty trong việc phổ biến sản phẩm ra thực tế. Các hướng dẫn đã bao quát gần như cho đa số các loại cây trồng phổ biến ở đồng bằng Bắc bộ và miền núi phía Bắc như cho cây lúa, rau các loại, chè, đỗ tương, ngô, khoai, hoa, cây cảnh ... đáp ứng yêu cầu là phân bón này có thể sử dụng tốt cho tất cả các loại cây trồng.

Các mô hình: đã thực hiện các mô hình trồng trọt với số lượng cây trồng và diện tích nhiều hơn yêu cầu, cụ thể là đối với rau quả, 3 loại chính đã được thực hiện là cà chua, rau cải, dưa chuột. Bảy loại rau quả cũng đã được bà con nông dân xã Song Phương, huyện Hoài Đức chăm sóc và cho kết qủa tốt. Hoa cũng đã thực hiện trên nhiều loại và không những tạo ra năng suất cao hơn mà còn tạo ra màu sắc đẹp hơn. Ngoài ra còn thực hiện thêm mô hình trồng lúa ở Nam Định và Thanh Hóa, các mô hình này đã thu hút sự quan tâm rất lớn của bà con tại nơi thực hiện mô hình và cả bà con nông dân vùng lân cận.

Cho tới nay, Công ty đã hỗ trợ và có 3 phim giới thiệu quảng cáo sản phẩm: Phim “Thông điệp xanh” của hãng Phim tài liệu khoa học Trung ương, giới thiệu phân bón lá Ước mơ nhà nông và giới thiệu phương pháp chế biến phân bón rắn từ phân bón ước mơ nhà nông với xỉ than, cám gạo của truyền hình Hải Phòng và 1 phim quảng cáo truyền hình 30 giây.

Sản phẩm AgroDream là nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ bằng Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 86451 theo Quyết định số 11414/QĐ-SHTT ngày 17.08.2007 của Cục Sở hữu trí tuệ.

Dự án đã hoàn thành vượt mức về số lượng các sản phẩm đăng ký. Về chất lượng dây chuyền SXTN: dây chuyền này đã  có thể sản xuất ra sản phẩm có năng suất cao, đáp ứng được các yêu cầu về duy trì chế độ công nghệ sản xuất, của sự thay đổi nguyên liệu.  

   Về chất lượng sản phẩm phân bón: kết quả phân tích đã cho thấy đã đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm đã đăng ký.

III.  HIỆU QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ XÃ HỘI

3.1. Hiệu quả về khoa học và công nghệ:

- Công nghệ sản xuất là công nghệ sinh học tiên tiến nhất hiện nay (thủy phân protein bằng enzyme), là công nghệ sử dụng phế thải, nhưng tạo ra rất ít chất thải (không thu hồi được mà chỉ xử lý là khí thải)

- Các thiết bị sản xuất có thể coi là phù hợp nhất với công nghê sản xuất theo nguyên liệu đưa vào và sản phẩm ra (sau khi đã hoàn thiện theo đăng ký trong dự án). Các thiết bị công nghệ đều sản xuất được trong nước, chỉ phải mua các sản phẩm nước ngoài là bơm, máy nén, bộ điều khiển...

- Nguyên liệu chính sử dụng là nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên trong nước, có thể tái tạo được (rong biển, cá biển nhỏ, da động vật).

- Sản phẩm là phân bón lỏng được sản xuất bằng phương pháp thủy phân enzyme, được sản xuất ở nhiệt độ thấp do đó bảo toàn gần như toàn bộ chất dinh dưỡng có trong nguyên liệu.

- Sản phẩm dinh dưỡng cây trồng này sẽ là một công cụ quan trọng để các nghiên cứu ứng dụng sinh học phân tử, sinh lý thực vật vào nghiên cứu các quá trình biến đổi bên trong, môi trường xung quanh cây trồng

3.2. Hiệu quả về kinh tế xã hội:

- Tạo ra khả năng có thể xây dựng các nhà máy sản xuất phân bón bằng phương pháp thủy phân enzyme công suất 20.000 – 30.000 tấn/năm với nguyên liệu từ các phế thải hữu cơ giầu protein.

- Sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp chứa nhiều chất dinh dưỡng cân đối như nhiều axít amin, khoáng chất, chất dinh dưỡng N,P,K rất cần cho sự phát triển của cây trồng.

- Làm tăng sản phẩm nông nghiệp tối thiểu 10%.

- Làm giảm phân bón vô cơ ít nhất 30%.

- Làm giảm trung bình 30% thuốc bảo vệ thực vật.

- Góp phần quan trọng tạo ra dòng sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về xuất khẩu (đặc biệt thấy rõ đối với quả Thanh Long).

- Tạo ra công cụ quan trọng để đối phó với sự biến đổi khí hậu gây suy giảm chất dinh dưỡng, khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu của cây trồng.

- Sản phẩm phân bón có giá cạnh tranh cao so với phân bón nhập ngoại có tính năng tương tự. Sản phẩm Ước mơ nhà nông đang được bán đến tay người tiêu dùng phía Bắc là 50.000 đ/ lít.

Dự kiến trong tương lai, với các nghiên cứu gắn sản phẩm vào cánh đồng, sản phẩm này sẽ trở thành công cụ quan trọng để đóng góp vào làm thay đổi cách thức sản xuất nông nghiệp đang phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên, bị quá nhiều rủi ro như hiện nay để  trở thành một ngành sản xuất công nghiệp, ở đó người nông dân sẽ có khả năng kiểm soát sự phát triển của cây trồng, kiểm soát được chất lượng nông sản.

IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Kết luận

Kết quả lớn nhất của dự án là tạo ra được một dây chuyền sản xuất thử nghiệm phân bón lỏng bằng công nghệ sinh học tiên tiến là thủy phân bằng enzyme các phế thải giàu protein tương đối hoàn thiện. Trong quá trình thực hiện dự án, nhiều cải tiến về công nghệ, qui trình sản xuất và thiết bị đã được thực hiện bắt đầu từ khâu chế biến, bảo quản nguyên liệu cho tới quá trình thủy phân, lọc, pha chế, đóng chai sản phẩm. Mỗi cải tiến dù lớn hay nhỏ đều góp phần quan trọng vào hoàn thiện dây chuyền sản xuất sao cho hệ thống làm việc hiệu quả nhất và ổn định nhất. Cho tới nay có thể nói rằng công nghệ sản xuất này đã đủ điều kiện để chào bán trên thị trường dưới dạng chuyển giao công nghệ hoặc chìa khóa trao tay (EPC) một dây chuyền sản xuất công xuất 20.000 – 30.000 tấn/ năm. Hệ thống sản xuất thử nghiệm có thể sử dụng để thực hiện đào tạo công nhân, cán bộ kỹ thuật và quản lý theo một nội dung quan trọng của hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc EPC cũng như có thể để các sinh viên ngành công nghệ hóa học, công nghệ môi trường, công nghệ sinh học đến thực tập.

Kết quả quan trọng thứ hai của dự án là đối với sự phát triển của ngành trồng trọt. Các kết quả sử dụng phân bón trên các mô hình trồng cà chua, dưa chuột, cải xanh, chè xanh, hoa nhiều loại, lúa một số loại cho thấy nếu sử dụng những chất dinh dưỡng mới có nguồn gốc hữu cơ, được chế biến bằng công nghệ sinh học tiên tiến thì cây trồng sẽ có một mức năng suất và chất lượng mới (dinh dưỡng cao hơn, an toàn hơn, màu sắc đẹp hơn, giữ được lâu hơn).

Kết quả quan trọng thứ ba của dự án là góp phần rất qua trọng vào việc bảo vệ môi trường. Trong những năm qua, do sử dụng quá nhiều phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật độc hại nên đất đai, nguồn nước mặt, nước ngầm ở các vùng nông thôn đã bị ô nhiễm khá nặng dẫn tới năng suất giảm, cây trồng dễ bị bệnh tật. Với việc thay thế và giảm ít nhất 30% phân bón vô cơ các loại và thuốc trừ sâu, chắc chắn môi trường nông nghiệp và nông thôn sẽ được cải thiện đáng kể nếu được phổ biến rộng rãi, hơn nữa sử dụng các phế thải nông nghiệp như cá biển, rong biển, da động vật không những làm tăng giá trị và tăng thu nhập cho người nông dân nó còn góp phần bảo vệ môi trường.

Công ty cổ phần kỹ thuật môi trường hy vọng rằng một trong các sản phẩm của dự án là phân bón Ước mơ nhà nông “M” và “D” sẽ đóng góp tích cực vào việc chuyển đổi nền nông nghiệp sử dụng nhiều phân bón vô cơ, thuốc BVTV hóa học khó phân hủy sang nền nông nghiệp hữu cơ, có năng suất cao hơn và phát triển bền vững hơn.

            4.2. Kiến nghị

Dự án đã tạo ra hai sản phẩm: (1) hệ thống sản xuất phân bón lỏng từ các phế thải có nguồn gốc tự nhiên bằng công nghệ sinh học tiên tiến và (2) sản phẩm phân bón có thể sử dụng để áp dụng các kết quả nghiên cứu tiến tiến nhất hiện nay về cây trồng vào thực tiễn. Công ty ETC đã nhận thấy rõ khả năng lớn của sản phẩm đến sự phát triển của ngành nông nghiệp mới do vậy rất mong muốn được các cơ quan quản lý tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm có nhiều cơ hội đến tay người sản xuất nông nghiệp.

Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ  hỗ trợ cho nghiên cứu tiếp theo 2 đề tài sau:

Đề tài 1: Nghiên cứu phát triển phân bón sản xuất từ các nguồn rong biển, cá biển, cám gạo hoặc nguồn phế liệu giàu protein khác và ứng dụng vào sản xuất lúa, đỗ tương, cà chua, dưa chuột, thanh long để thay phân chuồng, giảm sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật  tại các vùng sản xuất trọng điểm. Các kết quả nghiên cứu tại Viện nghiên cứu rau quả, Viện Khoa học Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc và Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm là một trong các cơ sở khoa học cho đề xuất này.

Đề tài 2: Nghiên cứu kéo dài thời gian bảo quản của quả cà chua bằng phương pháp tăng cường bổ sung dinh dưỡng cho cà chua trước khi thu hoạch. Cơ sở khoa học của đề xuất này là ngoài việc tăng các chất dinh dưỡng trong quả cà chua, công ty sẽ bổ sung thành phần mới có vai trò làm tăng độ cứng của vỏ cà chua bằng các thành tựu nghiên cứu mới nhất của sinh lý thực vật.

  Gửi cho bạn   Bản in
Tin mới hơn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT MƯỚP ĐẮNG MĐ1 AN TOÀN (29/ 01/ 2015)
Kết quả thực hiện dự án: "Ứng dụng phân bón hữu cơ trong sản xuất lúa năm 2012" tại Hà Nam (10/ 01/ 2013)
Thử nghiệm trên cây si kí đá tại xã Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng (05/ 01/ 2012)
Mô hình thực nghiệm trên dưa chuột tại An Dương, Hải phòng (đông xuân 2011) (21/ 07/ 2011)
Mô hình thực nghiệm trên cà chua tại Kiến Thụy, Hải phòng (đông xuân 2011) (21/ 07/ 2011)
Các tin khác
Khảo nghiệm trên các loại hoa chậu năm 2010 (07/ 12/ 2010)
Kết quả khảo nghiệm trên chè năm 2010 (04/ 12/ 2010)
Kết quả khảo nghiệm trên một số loại rau năm 2010 (03/ 12/ 2010)
Kết quả mô hình sử dụng phân bón lá ước mơ nhà nông chăm sóc lúa tại Quảng Phong, Quảng Xương, Thanh Hóa (23/ 11/ 2010)
Kết quả khảo nghiệm phân bón qua lá Agro Dream trên Chè, Rau và Lúa (05/ 10/ 2009)
Xem tiếp >>
Đầu trang